Tài liệu: Nâng cao mức sống dân cư ở tỉnh sơn la theo hướng bền vững

Tài liệu Nâng cao mức sống dân cư ở tỉnh sơn la theo hướng bền vững tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành hiện nay

Trường đại học

Viện Chiến Lược Phát Triển, Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư

Chuyên ngành

Địa Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

230
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tình hình kinh tế xã hội hiện tại của Sơn La

Sơn La là tỉnh miền núi phía Bắc với tiềm năng phát triển lớn nhưng vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Mức sống của người dân còn thấp so với mức bình quân chung của đất nước, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Thu nhập bình quân của nông hộ còn hạn chế, cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, và tỷ lệ lao động có việc làm ổn định còn thấp. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ từ chính sách phát triển kinh tế và các chương trình hỗ trợ xã hội, tỉnh đã có những bước tiến đáng kể trong nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.1. Các chỉ số kinh tế chính

Thu nhập bình quân đầu người ở Sơn La hiện nằm trong nhóm thấp nhất cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo dù đã giảm nhưng vẫn cao hơn mức bình quân toàn quốc. Ngành nông nghiệp vẫn là lĩnh vực chính, đóng góp phần lớn vào GDP địa phương. Các ngành công nghiệp truyền thống như xâm nhập chậm, hạn chế cơ hội việc làm đa dạng cho lao động địa phương.

1.2. Những thách thức chính

Sơn La gặp khó khăn trong phát triển cơ sở hạ tầng do địa hình phức tạp. Trình độ giáo dục dân cư còn thấp ảnh hưởng đến năng suất lao động. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ổn định, đặc biệt ở thanh niên nông thôn. Sự ô nhiễm môi trường gia tăng do khai thác tài nguyên không bền vững.

II. Chiến lược phát triển kinh tế bền vững

Để nâng cao mức sống dân cư Sơn La, cần triển khai chiến lược phát triển kinh tế đa ngành, bền vững. Ưu tiên modernhóa nông nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp nhẹ phù hợp với điều kiện địa phương. Khuyến khích đầu tư vào du lịch, dược liệu, chế biến lâm sản. Xây dựng các cơ sở hạ tầng quan trọng để kết nối với các tỉnh lân cận, mở rộng cơ hội thương mại. Phát triển chợ nông sản trực tuyến, giúp nông dân tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng.

2.1. Modernhóa nông nghiệp

Áp dụng công nghệ nông nghiệp tiên tiến, hỗ trợ nông dân sử dụng giống cây trồng, giống gia súc chất lượng cao. Xây dựng các mô hình sản xuất hàng hóa quy mô lớn, liên kết chuỗi giá trị. Đào tạo kỹ năng quản lý, kinh doanh cho nông hộ. Phát triển thương lại, trữ bảo quản nông sản giảm lãng phí.

2.2. Phát triển ngành công nghiệp mới

Khuyến khích các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Sơn La, tạo việc làm cho lao động địa phương. Hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phát triển du lịch sinh thái, văn hóa để tăng giá trị kinh tế. Khai thác tiềm năng năng lượng tái tạo như thủy điện, năng lượng mặt trời.

III. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực chất lượng là chìa khóa phát triển bền vững. Cần tăng đầu tư vào giáo dục, đặc biệt giáo dục mầm non, tiểu học ở vùng sâu vùng xa. Nâng cao chất lượng dạy học, xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng tiêu chuẩn. Phát triển giáo dục nghề, đào tạo kỹ năng để chuẩn bị lao động cho thị trường. Khuyến khích học sinh vùng khó khăn ở lại học tập thông qua các chính sách hỗ trợ học bổng. Xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi thông qua tuyển dụng, đào tạo, nâng lương hợp lý.

3.1. Phát triển giáo dục

Tăng tỷ lệ trẻ em hoàn thành giáo dục bắt buộc đến 95%. Xây dựng, cải tạo cơ sở vật chất trường học ở vùng sâu. Cung cấp đồ dùng học tập, sách vở miễn phí cho học sinh khó khăn. Hỗ trợ chi phí ăn trưa, ký túc xá cho học sinh vùng xa.

3.2. Đào tạo kỹ năng lao động

Mở rộng các trung tâm đào tạo nghề, phát triển chương trình đào tạo phù hợp nhu cầu thị trường. Hỗ trợ người lao động tham gia khóa học nâng cao kỹ năng. Liên kết đào tạo giữa trường với doanh nghiệp, tạo cơ hội việc làm sau học. Phát triển giáo dục liên tục, học tập suốt đời cho lao động.

IV. Cải thiện dịch vụ công y tế và xã hội

Chất lượng dịch vụ công, y tế, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống. Cần mở rộng mạng lưới y tế cơ sở ở vùng sâu vùng xa, trang bị đủ trang thiết bị, thuốc men cơ bản. Nâng cao năng lực các cơ sở y tế, đào tạo nhân viên y tế chất lượng. Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh cho hộ nghèo. Cải thiện các dịch vụ xã hội như chăm sóc trẻ em, người già, người khuyết tật. Xây dựng hệ thống thông tin liên lạc, nước sạch, điện năng ổn định ở toàn tỉnh.

4.1. Phát triển y tế toàn dân

Xây dựng, nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện huyện, trạm y tế xã. Cấp phát trang thiết bị y tế hiện đại cho các cơ sở. Tăng cường đào tạo bác sĩ, điều dưỡng viên phục vụ y tế cơ sở. Phát triển bảo hiểm y tế, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh.

4.2. Hoàn thiện hạ tầng cơ sở

Xây dựng hệ thống nước sạch, vệ sinh môi trường ở vùng nông thôn. Mở rộng kết nối điện, internet đến các xã vùng xa. Phát triển hệ thống giao thông, kết nối giữa các huyện, xã. Cải tạo nhà ở cho hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bảo đảm chỗ ở an toàn, vệ sinh.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NÂNG CAO MỨC SỐNG DÂN CƯ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Tổng quan các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến đề tài luận án là yêu cầu bắt buộc và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Theo yêu cầu của việc nghiên cứu là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao MSDC theo hướng BV, tác giả tiến hành thu thập tài liệu, phát hiện những điểm có thể kế thừa cho luận án và xác định rõ những vấn đề lý luận cần làm rõ, bổ sung mới. Theo tinh thần đó, tác giả tập trung tổng quan các vấn đề chủ yếu dưới đây: 1. Tổng quan lý luận về mức số ng dân cư theo hướng bền vững 1.

Công trình nước ngoài 1. Mức số ng dân cư Trong Toàn tập của C. Mác từng khẳng định: “Mức sống không chỉ là sự thỏa mãn những nhu cầu của đời sống vật chất, mà còn là sự thỏa mãn những nhu cầu nhất định, những nhu cầu được sản sinh ra bởi chính những điều kiện xã hội mà trong đó con người đang sống và trưởng thành” [9, tr. Nghĩa là ngoài đòi hỏi về những điều kiện vật chất, con người ta còn hướng tới những nhu cầu xã hội.

Điều đó cũng chứng tỏ rằng mức sống không phải là phạm trù nhất thành bất biến mà luôn biến đổi theo thời gian và không gian nhất định. Theo Marina Moskowitz (2008) [105], thuật ngữ “mức sống” được hình thành vào năm 1902 và đã trở nên phổ biến ở Mỹ vào đầu thế kỷ XX. Mặc dù định nghĩa chính xác của nó vẫn còn mơ hồ, nó thường phản ánh về tầng lớp trung lưu và sự thoải mái về vật chất. Thuật ngữ không phải là một thước đo chính xác về cách mọi người sống.

Thay vào đó, nó thể hiện lý tưởng của người Mỹ trung lưu muốn sống như thế nào. Trong Tổng quan Báo cáo Phát triển con người năm 2015, tác giả Helen Clark – Tổng giám đốc UNDP nhấn mạnh: “Ngày nay, con người sống lâu hơn, nhiều trẻ em được đến trường và nhiều người được tiếp cận với nước sạch và các điều kiện vệ sinh cơ bản hơn. TNBQĐN trên thế giới tăng lên và tỷ lệ nghèo giảm xuống, kết quả là mức sống của rất nhiều người được nâng cao” [83, iii]. Theo đó, MSDC được quan niệm là các nhu cầu cần thiết của đời sống con người, chỉ báo mật thiết nhất của MSDC là TNBQĐN và tỷ lệ hộ nghèo.

10 Như vậy, tổng quát lại có thể thấy một số tác giả nổi tiếng nước ngoài quan niệm về MSDC có những điểm tương đồng đó là: MSDC đề cập đến mức độ giàu có, thoải mái, hàng hóa vật chất và nhu cầu cần thiết có sẵn cho một lớp kinh tế xã hội nhất định trong một khu vực địa lý nhất định, thường là một quốc gia. MSDC liên quan chặt chẽ đến chất lượng đời sống. Mức số ng dân cư theo hướng bền vững Đã có một số công trình nước ngoài có đề cập tới tư tưởng liên quan tới vấn đề MSDC theo hướng BV như: Theo Từ điển Kinh tế chính trị học (1987): “Những đặc trưng quan trọng nhất của việc nâng cao mức sống là tiến trình phát triển của nó và trình độ phù hợp với các nhu cầu. Tiến trình phát triển được quyết định bởi nhịp điệu tăng của các chỉ tiêu như thu nhập thực tế, mức tiêu dùng các hàng hóa, lương thực, thời gian nhàn rỗi, tỷ trọng lao động cơ khí hóa trong tổng số hao phí lao động,.

Nghiên cứu của Michael Roberlt (2004) về “Tình hình chung của Anh và Mỹ” [34] và Thế giới: 202 quốc gia và vùng lãnh thổ (2003) [56] của Nxb Thông tấn, Hà Nội đã chỉ ra rằng: Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, kinh tế tăng trưởng sẽ có điều kiện để thực hiện giảm nghèo, nâng cao mức sống. Tuy nhiên, trong thực tế không phải cứ kinh tế tăng trưởng thì khoảng cách giàu nghèo sẽ giảm, mức sống sẽ tăng. Thực tiễn nhiều nước trên thế giới đã chứng minh điều này mà điển hình là Mỹ hay Ấn Độ. Cho nên chỉ PTBV với sự hài hòa ba yếu tố mới tác động một cách hiệu quả nhất đến vấn đề giảm nghèo, nâng cao mức sống.

Hay nói cách khác, chính PTBV là điều kiện, là cơ sở của giảm nghèo, nâng cao mức sống. Bởi lẽ, ngay chính nội hàm của PTBV đã bao hàm vấn đề xã hội mà trong đó giảm nghèo là cốt lõi. Cho nên, khi thực hiện PTBV nghĩa là phải tính đến sự hài hòa cả ba yếu tố trong hoạch định chính sách, và điều đó cũng có nghĩa là tăng trưởng kinh tế nhưng không phải bằng mọi giá mà phải gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Chính vì vậy theo tác giả một chính sách PTBV sẽ là điều kiện tốt để thực hiện nâng cao MSDC có hiệu quả và BV hơn.

Chương trình The 2030 Agenda for Sustainable Development1 [117] đã được lãnh đạo của 154 quốc gia thành viên đã thông qua một cách đầy táo bạo với nhiều tham vọng trong kỳ họp lần thứ 70 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc diễn ra từ 25-27/9/2015 tại NewYork. Chương trình gồm 17 mục tiêu PTBV (SDGs) và và 1 Chương trình nghị sự phát triển bền vững 2030 11 169 chỉ tiêu cụ thể trong đó có một số mục tiêu quan trọng như xóa đói nghèo, bảo vệ hành tinh, đảm bảo thịnh vượng chung cho tất cả (Phụ lục 1). Đặc biệt phấn đấu đến năm 2030, xoá bỏ hoàn toàn nghèo đói cho tất cả mọi người ở mọi nơi, hiện nay được tính là những người có mức sống dưới 1,25 $ một ngày. Như vậy là PTBV tiếp tục được nâng lên về chất và đây cũng là cơ hội để cuộc chiến chống đói nghèo, nâng cao mức sống trên thế giới có thêm động lực, bớt khó khăn hơn.

Theo Scott Cloutier và Deirdre Pfeiffer (2015) trong nghiên cứu “Sustainability Through Happiness: A Framework for Sustainable Development”2 [116]: Hạnh phúc thường được coi là một đặc điểm cá nhân mà mỗi người chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, hạnh phúc cũng là một đặc trưng cộng đồng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài cá nhân. Bài viết này đưa ra một khuôn khổ phát triển cộng đồng BV thay thế nhằm tập trung vào cơ hội cải thiện hạnh phúc. Cuối cùng, sự hạnh phúc đưa ra một biện pháp phổ quát tập trung vào mức sống con người và một khuôn khổ phát triển cộng đồng có thể chuyển thành một tương lai BV.

Công trình trong nước 1. Mức sống dân cư Ở Việt Nam, quan niệm cụ thể về MSDC chưa được đề cập tới nhiều trong các công trình nghiên cứu. Tuy vậy, trong các từ điển về tiếng Việt khái niệm về mức sống cũng đã được đề cập đến khá cụ thể. Theo nghiên cứu của Viện Ngôn ngữ học (1994): “mức sống là mức đạt được của các điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần” [87, tr.

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) đã đưa ra khái niệm mức sống vừa khái quát, vừa cụ thể: “Mức sống là phạm trù kinh tế – xã hội đặc trưng mức thỏa mãn nhu cầu về thể chất, tinh thần và xã hội của con người. Được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu số lượng và chất lượng của điều kiện sinh hoạt và lao động của con người” [25, tr. Như vậy, có thể thấy một mặt, mức sống được quyết định bởi số lượng và chất lượng của cải vật chất và văn hóa dùng để thỏa mãn nhu cầu của đời sống; mặt khác, được quyết định bởi mức độ phát triển bản thân nhu cầu của con người. Mức sống không chỉ phụ thuộc vào nền sản xuất hiện tại mà còn phụ thuộc vào quy mô của cải quốc dân và của cải cá nhân đã được tích lũy.

Mức sống và các chỉ tiêu thể hiện nó là do tính chất của hình thái KT – XH quyết định. Còn trong Đại từ điển tiếng Việt (2015): “mức sống là mức đạt được trong chi dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần” [94, tr. Theo tác giả Lê Hương (2007) trong bài viết “Học vấn, mức sống của người 2 “Tính bền vững thông qua sự hạnh phúc: Khung phát triển bền vững” 12 dân và vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường”: mức sống là một nhân tố có tác động nhất định đến thái độ, hành vi của người dân, bởi nó liên quan đến khả năng đáp ứng các nhu cầu – một trong những nội lực quan trọng quy định hành vi của con người [28, tr. Tác giả Vũ Tuấn Huy (2011) trong bài viết “Một số vấn đề xã hội cơ bản trong PTBV hộ gia đình vùng Tây Bắc nước ta hiện nay” quan niệm: mức sống là một chỉ báo xã hội phản ánh các chiều cạnh đa dạng trong điều kiện sống của hộ gia đình, nguồn lực, cơ hội và rủi ro trong quá trình thực hiện các chức năng của gia đình [27, tr.

Ngoài các công trình đã phân tích còn một số giáo trình cơ bản, đề cập đến cơ sở lý luận về MSDC, tiêu biểu như Giáo trình đào tạo thạc sĩ Dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội [72] của tác giả Nguyễn Minh Tuệ (1996). Giáo trình đã đề cập đến những nội dung cơ bản về MSDC, cũng như mối quan hệ dân số và PTBV. Mức số ng dân cư theo hướng bền vững Trong bộ Hồ Chí Minh Toàn tập (xuất bản năm 2011), những nội dung có liên quan tới vấn đề MDSC theo hướng BV cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra. Người lưu ý cần phải: “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm” [35, tr.61] vì “Dân có giàu thì nước mới mạnh” [36, tr.

Như vậy, theo Hồ Chí Minh: phải tiến tới giảm nghèo và tăng giàu. Đây chính là quan điểm phát triển MSDC theo hướng BV để tiến tới một xã hội ngày càng giàu có, văn minh và hạnh phúc. Do đó, tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng ta luôn lấy độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân làm mục đích lý tưởng của mình. Chính vì vậy, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm làm cho toàn dân có cuộc sống ngày càng tốt hơn, hạnh phúc hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ