Vấn đề Địa lý Đại cương: Khí quyển và Thủy quyển - Đại học Sư phạm TP.HCM

Nghiên cứu khí quyển, thủy quyển trong địa lý đại cương. Thành phần, cấu trúc, vai trò, và các vấn đề môi trường liên quan đến khí quyển, thủy quyển.

Chuyên ngành

Địa Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu Luận

2024

48
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I – KHÍ QUYỂN

1.1. Khái niệm khí quyển

1.2. Thành phần, cấu trúc và vai trò của khí quyển

1.3. Quá trình hình thành và phát triển của khí quyển

1.3.1. Quá trình hình thành khí quyển

1.3.2. Quá trình phát triển của khí quyển

1.4. Các đặc trưng cơ bản trong khí quyển

1.5. Năng lượng của mặt đất và khí quyển

1.6. Khí áp, gió và hoàn lưu khí quyển

1.7. Nước trong khí quyển

1.8. Thời tiết và khí hậu

1.9. Hiện trạng khí quyển hiện nay và dự báo tương lai

1.9.1. Hiện trạng khí quyển ngày nay

2. CHƯƠNG II – THUỶ QUYỂN

2.1. Thành phần của thuỷ quyển

2.2. Quá trình hình thành và phát triển của thủy quyển

2.3. Tuần hoàn của nước trên Trái Đất

2.4. Sự phân bố của nước trên Trái đất

2.5. Nước trên bề mặt lục địa. Nước dưới đất (nước ngầm)

2.6. Nước trong các biển và đại dương

2.7. Thách thức và giải pháp của thủy quyển ngày nay

2.7.1. Ô nhiễm nguồn nước

2.7.1.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước trên thế giới

Tóm tắt

I. Tổng Quan Khí Quyển Cấu Trúc Thành Phần Vai Trò SEO

Xung quanh Trái Đất là khí quyển, lớp không khí bao bọc và cùng tham gia vào các vận động của Trái Đất. Không khí có khả năng co giãn mạnh nên mật độ và tỉ trọng giảm nhanh theo chiều cao. Một nửa khối lượng khí quyển tập trung từ mặt đất lên đến độ cao khoảng 5 km, 3/4 ở dưới 10 km, và 9/10 ở dưới 20 km. Đến độ cao khoảng 20.000 km, mật độ không khí giảm gần hết. Không khí khô và trong sạch cấu tạo bởi hai chất khí chính: Nitơ (N2) chiếm hơn 78% và Oxy (O2) chiếm gần 21%. Ngoài ra còn có Acgông (Ar), Cacbonic (CO2) và các chất khí khác. Tỉ lệ phần trăm này không thay đổi theo chiều ngang cũng như theo chiều cao trong khí quyển, trừ Cacbonic và Ozon. Kết quả nghiên cứu cho thấy khí quyển không đồng nhất theo chiều thẳng đứng và bị phân hoá thành các tầng: đối lưu, bình lưu, giữa, ion và khuếch tán. Mỗi tầng có đặc điểm riêng. Khí quyển duy trì sự sống trên Trái Đất, cung cấp oxy, duy trì lớp nước, tránh tàn phá thiên thạch, duy trì nhiệt độ, cân bằng nhiệt độ và tạo ra tầng ozon. Bầu khí quyển mang đến một hệ thống quang hợp, giúp tăng cường quá trình trao đổi chất của các loài thực vật.

1.1. Cấu Trúc Tầng Đối Lưu Đặc Điểm Nhiệt Độ Chuyển Động

Tầng đối lưu có bề dày từ mặt đất lên đến độ cao 10 – 15 km, thay đổi theo thời gian và không gian. Đại bộ phận (4/5) khối lượng không khí của khí quyển nằm trong tầng đối lưu. Nhiệt độ giảm theo chiều cao (0,6oC/100m). Không khí chuyển động mạnh theo chiều thẳng đứng. Theo tài liệu gốc, "tất cả các quá trình vật lý xảy ra trong tầng đối lưu có ý nghĩa quyết định đến thời tiết và khí hậu ở mặt đất".

1.2. Tầng Bình Lưu và Tầng Ozon Chức Năng Bảo Vệ Quan Trọng

Tầng bình lưu nằm từ giới hạn trên của tầng đối lưu đến độ cao 50 – 60 km. Nhiệt độ tăng dần theo chiều cao do có lớp Ozon hấp thụ năng lượng của tia tử ngoại. Chuyển động của không khí theo chiều thẳng đứng yếu hẳn đi. Hơi nước rất ít, nhưng vẫn còn thấy mây xà cừ ở độ cao 25 km. Tầng ozone đóng vai trò quan trọng khi duy trì sự sống của Trái Đất, chúng hấp thụ những tia cực tím từ bức xạ Mặt Trời và ngăn chặn chúng chiếu trực tiếp xuống Trái Đất.

1.3. Tầng Ion và Tầng Khuếch Tán Giới Hạn Ngoài Cùng Khí Quyển

Tầng ion nằm từ giới hạn trên của tầng giữa đến độ cao khoảng 1000 km. Ở phần dưới, nhiệt độ tăng theo chiều cao, đến độ cao 300 km nhiệt độ đã lên tới 2000 đến 3000°C. Các chất khí bị phân li mạnh thành các ion, khả năng dẫn điện tăng lên. Tầng ion có khả năng hấp thụ khúc xạ và phản hồi sóng điện từ. Tầng khuếch tán nằm ở độ cao trên 1000 km, có khả năng làm khuếch tán các chất khí vào không gian vũ trụ.

II. Hình Thành Phát Triển Khí Quyển Các Giai Đoạn Chính SEO

Khí quyển Trái Đất phát triển qua nhiều niên đại địa chất với nhiều biến đổi khác nhau và gắn liền với lịch sử phát triển của Trái đất. Khí quyển đầu tiên hình thành từ đám mây vũ trụ. Về sau được hình thành do sự thoát hơi nước, các chất khí từ trong lòng Trái Đất đi lên do quá trình phân dị trọng lực thông qua hoạt động núi lửa, phun trào macma; từ thủy quyển và thạch quyển; cuối cùng gắn liền với sinh quyển. Các giai đoạn phát triển bao gồm: Khí quyển đầu tiên, giai đoạn chuyển từ phi sinh vật sang sinh vật, và giai đoạn phát triển cuối cùng.

2.1. Khí Quyển Nguyên Thủy Thành Phần và Điều Kiện Tiền Sự Sống

Hyđro và Heli là những nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ nên chúng nằm trong thành phần của đám mây hơi bụi nguyên thủy đã sản sinh ra Trái Đất. Sau đó Trái đất tiếp tục được hun nóng, nhiệt sản sinh do sự nén trọng lực của hành tinh và do sự phân hủy của các nguyên tố phóng xạ ở bên trong. Điều đó đã thúc đẩy hai quá trình: sự tiêu tan dần dần của hydro và heli và sự tiết hơi của bao manti. Trái đất mất đi lớp vỏ Hydro - Heli và thành lập một khí quyển riêng bằng các khí tự ở trong lòng Trái đất bay ra. Theo ý kiến của A. Xokolov (Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô) cho rằng, trong khí quyển này cũng có H2 và NH3, oxi hoàn toàn vắng mặt.

2.2. Giai Đoạn Chuyển Tiếp Sự Xuất Hiện của Oxy và Quang Hợp

Giai đoạn chuyển từ điều kiện phi sinh vật sang điều kiện sinh vật, từ điều kiện khử Oxy sang điều kiện Oxy hóa: N2, CO2, CO và với tư cách các tạp chất thứ yếu; CH4, O2 trở thành những bộ phận chính trong thành phần lớp vỏ khí của Trái Đất. Oxy xuất hiện có thể do sự phân giải các nguyên tử nước ở các lớp bên trên của khí quyển dưới tác dụng các tia tử ngoại của Mặt Trời; nó cũng có thể được giải phóng từ các hợp chất oxit cấu tạo nên vỏ Trái đất. Chứng cứ hóa thạch chỉ ra rằng các vi khuẩn lam có mặt khoảng 3,3 tỷ năm trước và là những sinh vật sinh sống bằng quang hợp để sản xuất ra Oxy.

2.3. Giai Đoạn Hiện Đại Ảnh Hưởng của Thực Vật và Sự Ổn Định

Thực vật xuất hiện trên Trái Đất cùng với quá trình quang hợp đã tạo nên một lượng lớn Oxy và làm giảm đáng kể nồng độ CO2 trong khí quyển. Khi cây cối xuất hiện nhiều hơn thì lượng Oxy tăng lên một cách đáng kể (trong khi lượng dioxide carbon giảm đi). Oxy được giải phóng tương tác với amoniac để tạo ra nitơ; ngoài ra vi khuẩn cũng có thể chuyển đổi amoniac thành nitơ. Đồng thời với sự kiện đó, khí quyển hầu như mất hết khí cacbonic. Bầu khí quyển chứa phần lớn khí oxy và nitơ cũng là bầu khí quyển như hiện nay.

III. Năng Lượng Khí Quyển Cân Bằng Bức Xạ Chế Độ Nhiệt SEO

Khí quyển tham gia vào quá trình làm biến đổi và phân bố lại nhiệt mà bề mặt Trái Đất nhận được của Mặt Trời. Trái Đất trong cùng một lúc nhận nhiệt (thu) của Mặt Trời và mất nhiệt (chi). Hiệu số giữa thu và chi bức xạ là cân bằng bức xạ. Cân bằng bức xạ của Trái Đất bao gồm cân bằng bức xạ của mặt đất và của khí quyển. Chế độ nhiệt của khí quyển là sự thay đổi nhiệt độ của không khí theo thời gian và không gian. Đây là nhân tố quan trọng của thời tiết và khí hậu.

3.1. Cân Bằng Bức Xạ Nguồn Gốc Phân Bổ Năng Lượng Mặt Trời

Bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng bức xạ chính và thực tế là nguồn nhiệt duy nhất của mặt đất và khí quyển. Bức xạ Mặt Trời một phần biến thành nhiệt trong khí quyển nhưng chủ yếu là biến thành nhiệt ở mặt đất. Lượng nhiệt này đốt nóng những lớp thổ nhưỡng và lớp nước trên cùng, còn không khí trên bề mặt thì được đốt nóng bởi những lớp thổ nhưỡng và lớp nước này. Bức xạ nghịch lớn đối với những nơi nhiều mây, nhiệt độ cao và có nhiều hơi nước.

3.2. Chế Độ Nhiệt Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Phân Bố Theo Không Gian

Nhiệt độ không khí thay đổi do trao đổi nhiệt với môi trường xung quanh, thay đổi do đoạn nhiệt và sự thay đổi nhiệt do chuyển động ngang. Sự phân bố nhiệt độ không khí theo chiều thẳng đứng rất phức tạp vì nó phụ thuộc vào tính chất vật lý của từng lớp không khí ở các độ cao khác nhau. Sự phân bố nhiệt độ không khí trên bề mặt đất được biểu hiện bởi các đường đẳng nhiệt. Các vòng đai nhiệt bao gồm: vòng đai nóng, vòng đai ôn đới, vòng đai lạnh, và vòng đai băng giá vĩnh cửu.

IV. Thủy Quyển Thành Phần Quá Trình Hình Thành Tuần Hoàn SEO

Thủy quyển là toàn bộ nước trên Trái Đất ở các trạng thái khác nhau (lỏng, rắn, hơi), bao gồm nước trong các biển, đại dương, trên các lục địa và trong khí quyển, trong đó có khoảng 2,8 % là nước ngọt, còn lại là nước mặn. Phần lớn nước ngọt của Trái Đất là băng, tuyết ở hai cực và trên các đỉnh núi cao. Sự vận động và thay đổi trạng thái của nước tạo nên vòng tuần hoàn nước trên Trái Đất. Thủy quyển xuất hiện trên Trái Đất do kết quả của sự ngưng đọng hơi nước từ trong lòng Trái Đất thoát ra do hoạt động của núi lửa.

4.1. Thành Phần Của Thủy Quyển Nước Ngọt Nước Mặn Các Chất Hòa Tan

Thủy quyển có thành phần tương đối phức tạp. Chiếm 96% trọng lượng của thủy quyển là nước (trong đó nước mặn chiếm 97%, còn nước ngọt 3%), đồng thời đó cũng là thành phần quan trọng nhất của thủy quyển, 4% còn lại là các chất hoà tan, trong đó chủ yếu là các ion. Ngoài ra, trong nước còn có rất nhiều chất rắn như: bùn, cát, các chất hữu cơ, tỷ lệ của các chất này rất nhỏ.

4.2. Quá Trình Hình Thành Thủy Quyển Từ Hoạt Động Núi Lửa Đến Biển Cổ

Hơi nước là bộ phận cấu thành chủ yếu của khí phun núi lửa, của mạch geize và của các thành phần bay hơi trong macma axit. Theo Derpgolix, sự tăng lên hàng năm về khối lượng của thủy quyển do sự thoát hơi của bao manti, tổng cộng là 3. Tuổi của thủy quyển không ít hơn 3 tỉ năm. Nước ở các đại dương cổ có độ mặn thấp. Theo thời gian độ mặn của nước biển tăng lên.

4.3. Tuần Hoàn Nước Chu Trình Liên Tục Giữa Khí Quyển và Thạch Quyển

Nước có mối quan hệ chặt chẽ về mặt động lực với các quyển khác trong lớp vỏ địa lí. Mối liên hệ này được thực hiện nhờ các quá trình tuần hoàn của nước dưới dạng tác động trực tiếp của bức xạ Mặt Trời, nước sẽ bốc hơi từ các bề mặt nước, lượng hơi nước này đi vào khí quyển, khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ và các yếu tố khác, hơi nước sẽ ngưng tụ thành mây hoặc các giọt nước và dưới tác động trọng lực nó lại rơi xuống bề mặt Trái đất.

V. Biến Đổi Khí Quyển Thủy Quyển Thách Thức Giải Pháp SEO

Hiện trạng khí quyển hiện nay có sự thay đổi cấu trúc do biến đổi khí hậu và gia tăng khí nhà kính, gây ra hậu quả nghiêm trọng. Bên cạnh đó, thủy quyển cũng chịu tác động quá mức của con người, làm gia tăng các tai biến thiên nhiên như: khan hiếm nước sạch, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng.

5.1. Ô Nhiễm Không Khí Tác Nhân Hậu Quả và Giải Pháp Cải Thiện

Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí. Chủ yếu do khói, bụi, hơi hoặc các khí lạ được đưa vào không khí. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường không khí đó là yếu tố tự nhiên & tác động của con người. Giải pháp: Cải tiến dây chuyền công nghệ, thay thế nhiên liệu đốt cháy, sử dụng nhiều hơn các nguồn năng lượng tái tạo, Xây dựng các khu công nghiệp xa khu dân cư, Phát triển các phương tiện công cộng, Bảo vệ rừng, trồng rừng.

5.2. Ô Nhiễm Nguồn Nước Thực Trạng và Các Biện Pháp Xử Lý Hiệu Quả

Ô nhiễm môi trường nước là việc nguồn nước tại các ao, hồ, sông, suối, kênh, rạch, mạch nước ngầm, biển…. chứa các chất độc hại với hàm lượng cao gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người và động thực vật. Hậu quả nghiêm trọng tới con người, động thực vật và cả những ảnh hưởng liên quan tới vấn đề kinh tế. Giải pháp: Tiết kiệm nguồn nước sạch, xử lý chất thải trước khi xả ra bên ngoài môi trường, nâng cao ý thức của cộng đồng, chuyển dịch xu hướng sử dụng năng lượng sạch.

VI. Vai Trò Địa Lý Đại Cương Khí Quyển Thủy Quyển Tương Lai SEO

Nghiên cứu về khí quyểnthủy quyển không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học, mà còn là trách nhiệm của mỗi người. Sự hiểu biết sâu sắc về các quá trình tự nhiên và tác động của con người sẽ giúp chúng ta đưa ra những quyết định sáng suốt để bảo vệ hành tinh. Quản lý tài nguyên nước bền vững và giảm thiểu ô nhiễm là những ưu tiên hàng đầu. Cần có sự hợp tác toàn cầu để giải quyết các vấn đề xuyên biên giới như biến đổi khí hậu và ô nhiễm biển.

6.1. Ứng Dụng Nghiên Cứu Dự Báo Thời Tiết và Quản Lý Tài Nguyên

Nghiên cứu về khí quyểnthủy quyển có ứng dụng thực tiễn trong nhiều lĩnh vực, từ dự báo thời tiết chính xác đến quản lý tài nguyên nước hiệu quả. Mô hình hóa khí hậu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về biến đổi khí hậu và đưa ra các biện pháp thích ứng phù hợp. Công nghệ xử lý nước thải tiên tiến giúp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước sạch.

6.2. Bảo Tồn Tài Nguyên Hướng Đến Sử Dụng Bền Vững Khí và Nước

Bảo tồn tài nguyên khí quyểnthủy quyển là chìa khóa cho một tương lai bền vững. Cần có những chính sách và hành động cụ thể để giảm thiểu khí thải nhà kính, bảo vệ rừng, và khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo. Quản lý tài nguyên nước bền vững bao gồm việc sử dụng nước tiết kiệm, tái chế nước, và bảo vệ các nguồn nước tự nhiên.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I – KHÍ QUYỂN. Khái niệm khí quyển. Thành phần, cấu trúc và vai trò của khí quyển. Quá trình hình thành và phát triển của khí quyển.

Quá trình hình thành khí quyển. Quá trình phát triển của khí quyển. Các đặc trưng cơ bản trong khí quyển. Năng lượng của mặt đất và khí quyển.

Khí áp, gió và hoàn lưu khí quyển. Nước trong khí quyển. Thời tiết và khí hậu. Hiện trạng khí quyển hiện nay và dự báo tương lai.

Hiện trạng khí quyển ngày nay. 31 CHƯƠNG II – THUỶ QUYỂN. Thành phần của thuỷ quyển. Quá trình hình thành và phát triển của thủy quyển.

Tuần hoàn của nước trên Trái Đất. Sự phân bố của nước trên Trái đất. Nước trên bề mặt lục địa. Nước dưới đất (nước ngầm).

Nước trong các biển và đại dương. Thách thức và giải pháp của thủy quyển ngày nay. 42 Ô nhiễm nguồn nước. 42 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước trên thế giới.

Khái niệm khí quyển Xung quanh Trái Đất có lớp không khí bao bọc gọi là khí quyển, khí quyển cùng tham gia vào các vận động của Trái Đất. Không khí khác với đất, đá, nước là có khả năng co giãn mạnh nên mật độ và tỉ trọng giảm nhanh theo chiều cao. Thành phần, cấu trúc và vai trò của khí quyển 2. Thành phần Một nửa khối lượng khí quyển tập trung từ mặt đất lên đến độ cao khoảng 5 km, 3/4 ở dưới 10 km, 9/10 ở dưới 20 km, từ độ cao 20 km trở lên chỉ còn lại 1/10 khối lượng của toàn bộ khí quyển.

Như vậy, càng lên cao không khí càng loãng, đến độ cao khoảng 20.000 km mật độ của không khí đã giảm gần hết, ta có thể xem đây là giới hạn trên của khí quyển, từ đây trở lên là khoảng chân không bao la vô tận. Không khí khô và trong sạch, không màu sắc, không mùi vị được cấu tạo bởi hai chất khí chính là Nitơ (N2) và Oxy (O2). Thể tích Nitơ chiếm hơn 78%, Oxy chiếm gần 21%, cả hai chất khí này chiếm 99,03%, ngoài ra còn có Acgông (Ar) chiếm 0,93%, Cacbonic (CO2) chiếm 0,03%. Các chất khí còn lại là Neon (Ne), Heli (He), Kripton (Kr), Hiđro (H2), Ozon (O3),.

Tỉ lệ phần trăm này không thay đổi theo chiều ngang cũng như theo chiều cao trong khí quyển. Riêng Cacbonic và Ozon phân bố không đều và không ổn định do nguồn gốc phát sinh của chúng. Cấu trúc Kết quả nghiên cứu cho thấy khí quyển không đồng nhất theo chiều thẳng đứng và bị phân hoá thành tầng, mỗi tầng đều có đặc điểm riêng của nó. Tầng đối lưu: Bề dày của tầng đối lưu từ mặt đất lên đến độ cao 10 – 15 km và luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian: mùa hè lớn hơn mùa đông, ở xích đạo 1 (15 – 17 km) lớn hơn ở cực (8 km).

Đại bộ phận (4/5) khối lượng không khí của khí quyển nằm trong tầng đối lưu. Đặc điểm nổi bật của tầng đối lưu là nhiệt độ dám cho chiều cao, trung bình là 0,6oC/100m, ở đỉnh tầng đối lưu nhiệt độ tăng dần từ xích đạo (-70oC) đến cực (-55oC). Không khí chuyển động mạnh theo chiều thẳng đứng, tất cả các quá trình vật lý xảy ra trong tầng đối lưu có ý nghĩa quyết định đến thời tiết và khí hậu ở mặt đất b. Tầng bình lưu: Tầng bình lưu nằm từ giới hạn trên của tầng đối lưu đến độ cao 50 – 60 km.

Đặc điểm của tầng này là nhiệt độ tăng dần theo chiều cao do có lớp Ozon nằm đã hấp thụ năng lượng của tia tử ngoại nên tích lũy được năng lượng, chuyển động của không khí theo chiều thẳng đứng yếu hẳn đi mà thay vào đó là chuyển động ngang chiếm ưu thế. Gió ở đây là gió tây vì hướng của Gradien khí áp nằm ngang là hướng từ xích đạo về hai cực, các đường đẳng áp thẳng và song song không có mà sát. Hơi nước ở đây còn rất ít, song ở độ cao 25 km vẫn còn thấy có mây xà cừ, mây này được cấu tạo từ những hạt nước lạnh. Tầng giữa: Tầng giữa nằm từ giới hạn trên của tầng bình lưu đến độ cao 75 – 80 km, ở đây nhiệt độ giảm mạnh theo chiều cao, từ 0 oC ở dưới hạn dưới giảm xuống -75oC ở giới hạn trên trên.

Áp suất của khí quyển ở độ cao 80 km nhỏ hơn 200 lần so với áp suất ở mặt đất. Như vậy, từ mặt đất đến độ cao 80 km đã chiếm 99,5% khối lượng khí quyển, còn từ đây trở lên chỉ còn 0,5% khối lượng khí quyển, nghĩa là không khí đã rất loãng. Tầng ion: Tầng ion nằm từ giới hạn trên của tầng giữa đến độ cao khoảng 1000 km. Ở phần dưới của tầng ion, nhiệt độ tăng theo chiều cao, đến độ cao 300 km nhiệt độ đã lên tới 2000 đến 3000°C nên lớp này gọi là lớp nhiệt, bên trên lớp này nhiệt độ lại giảm mạnh và đạt tới nhiệt độ không gian vũ trụ.

2 Trong tầng ion, các chất khí bị phân li mạnh thành các ion, vì vậy khả năng dẫn điện của tầng này tăng lên 10 – 12 lần so với lớp không khí gần mặt đất. Tầng ion có khả năng hấp thụ khúc xạ và phản hồi sóng điện từ, vì vậy mà sóng phát ra từ một địa điểm nào đó sẽ được truyền đến tất cả các địa điểm khác trên mặt đất. Trong tầng ion, còn thấy có hiện tượng cực quang, đây là hiện tượng do các dòng những hạt điện tích phóng ra từ những vùng hoạt động ở mặt ngoài của Mặt Trời, khi rơi vào từ trường của Trái Đất các hạt này bị lệch hướng và xâm nhập chủ yếu vào miền cực của Trái Đất gây ra hiện tượng phát sáng của các chất khí trong lớp khí quyển trên cao (400 – 500 km) mà ở các vùng vĩ độ cao có thể nhìn thấy gọi là cực quang. Tầng khuếch tán: Tầng khuếch tán nằm ở độ cao trên 1000 km đó là tầng ngoài có khí quyển.

Giới hạn trên của nó vào khoảng 20. Đặc điểm của tầng này là có khả năng làm khuếch tán các chất khí vào không gian vũ trụ, tốc độ chuyển động của các chất khí rất lớn, không khí vô cùng loãng, trong mỗi cm3 chỉ còn vài nghìn phân tử đã bị ion hoá. Khí quyển duy trì sự sống trên Trái Đất, cung cấp oxy cần thiết cho quá trình hô hấp Đây là một vai trò quan trọng hàng đầu của khí quyển đối với sự sống của chúng ta. Như các bạn cũng đã biết, tầng khí quyển được cấu tạo từ rất nhiều loại khí và các khí này cần thiết cho duy trì sự sống của Trái Đất.

Việc mất đi các khí cần thiết để người, động vật và thực vật thực hiện được quá trình hô hấp sẽ khiến cho hành tinh mất đi sự sống. Đồng nghĩa với các tầng khí quyển duy trì sự sống của loài người và các sinh vật khác sinh sống trên trái đất. Duy trì lớp nước trên Trái Đất 3 Các tầng khí quyển như một lớp vỏ bảo vệ Trái Đất trước những ảnh hưởng từ bên ngoài vũ trụ, cụ thể là Mặt Trời. Hai lớp khí quyển giữ vai trò quan trọng khi chịu các tác động trực tiếp đó là tầng đối lưu và tầng nhiệt.

Nếu như không có lớp bảo vệ của các tầng khí quyển, Trái Đất sẽ bị tấn công bởi sức nóng của Mặt Trời hay những vật thể lạ ngoài vũ trụ dẫn đến sự biến mất hoàn toàn của đại dương. Tình trạng khô hạn, thiếu nước do nhiệt độ tăng cao đột ngột hoặc duy trì trong một thời gian dài ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống con người. Chính vì vậy, sự có mặt của những tầng khí quyển giống như một lớp sáp bảo vệ giúp đốt cháy và ngăn cản các nguy cơ có thể diễn ra với cuộc sống chúng ta. Tránh những tàn phá nặng nề của thiên thạch Thiên thạch là một tác nhân mang đến sức tàn phá khủng khiếp cho toàn bộ trái đất.

Hiện nay, chưa có một kết luận nghiên cứu chính thức nào về sức công phá của thiên thạch. Tuy nhiên, đã có những mô phỏng dự đoán về những va chạm giữa chúng với bề mặt trái đất gây ra sức tàn phá nặng nề tương đương với một quả bom nguyên tử của Mỹ với hai thành phố Hiroshima và Narasaki. Do đó, sự có mặt của các tầng khí quyển sẽ giúp đẩy lùi tối đa những va chạm và những thiệt hại nghiêm trọng ở phạm vi cục bộ hay tổng quát. Duy trì nhiệt độ ban đêm cho bề mặt Trái Đất Nếu không có khí quyển, Trái Đất sẽ chịu tác động trực tiếp của các yếu tố bên ngoài vũ trụ.

Dẫn đến nhiệt độ ban đêm sẽ rất lạnh và khó có thể cân bằng được nhiệt độ của sự sống. Theo đó thì nhiệt độ trung bình của Trái Đất là 15⁰C được cân bằng và cố định nhờ vai trò của các tầng khí quyển. Với khả năng bao bọc và giữ nhiệt tốt, nếu không có các lớp trong bầu khí quyển để giữ ấm thì vào ban đêm nhiệt độ dự đoán sẽ là khoảng – 150 độ C hoặc hơn thế nữa. Cân bằng nhiệt độ Trái Đất 4 Cũng tương tự với nhiệt độ giảm mạnh về ban đêm, thì nhiệt độ Trái Đất cũng có thể sẽ đột ngột tăng cao gây ra hiện tượng “nóng lên toàn cầu”.

Như chúng ta cũng đã biết, nhiệt độ Trái Đất được tạo nên bởi sự cân bằng năng lượng giữa Mặt Trời và Trái Đất. Trong đó thì năng lượng Mặt Trời được hấp thụ chủ yếu từ các bước sóng ngắn có thể dễ dàng đi qua các tầng khí quyển để xuống bề mặt Trái Đất. Ngược lại, khí quyển lại có bước sóng dài và năng lượng thấp, nhiều chất khí lại bị giữ lại. Do đó, năng lượng Mặt Trời sẽ lấn át hoàn toàn năng lượng của Trái Đất.

Các tầng khí quyển sẽ là lớp áo bảo vệ an toàn và hỗ trợ tuyệt đối trong việc làm giảm đi năng lượng từ các tia nắng gắt và sự khắc nghiệt của nhiệt độ. Tạo ra tầng Ozon dồi dào, chống sự nguy hại của các tia cực tím xuống Trái Đất Trong cấu tạo của tầng khí quyển thì tầng bình lưu là nơi sở hữu tầng ozon. Tầng ozon đóng vai trò quan trọng khi duy trì sự sống của Trái Đất, chúng hấp thụ những tia cực tím từ bức xạ Mặt Trời và ngăn chặn chúng chiếu trực tiếp xuống Trái Đất. Hãy thử tưởng tượng, nếu tầng ozon bị phá hủy thì đồng nghĩa với việc Trái Đất sẽ bị tia UV chiếu trực tiếp gây ra các loại bệnh tật nguy hiểm cho con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ