Nghiên cứu phát triển du lịch gắn với bảo tồn đất ngập nước tại Côn Đảo

Luận văn về phát triển du lịch bền vững tại Côn Đảo, đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước ven biển độc đáo.

Chuyên ngành

Địa lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tài Nguyên Du Lịch Đất Ngập Nước Côn Đảo

Côn Đảo sở hữu những tài nguyên du lịch độc đáo gắn liền với hệ sinh thái đất ngập nước ven biển. Vùng đất ngập nước này không chỉ là điểm đến hấp dẫn mà còn đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học. Các tour du lịch sinh thái khai thác tài nguyên tự nhiên như rừng ngập mặn, hệ sinh thái ven biển và các loài động vật quý hiếm. Tài nguyên văn hóa liên quan đến lịch sử và truyền thống địa phương cũng là điểm nhấn. Phát triển du lịch bền vững tại Côn Đảo đòi hỏi phải cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo vệ môi trường.

1.1. Tài Nguyên Tự Nhiên và Đa Dạng Sinh Học

Hệ sinh thái đất ngập nước Côn Đảo chứa đựng nhiều loài thực vật và động vật quý hiếm. Rừng ngập mặn là hạng mục quan trọng cần bảo tồn. Các loài chim, cua, cá và tôm sinh sống trong môi trường này tạo nên đa dạng sinh học phong phú. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái bên cạnh các biện pháp bảo vệ môi trường.

1.2. Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái

Du lịch sinh thái ở Côn Đảo mang lại giá trị kinh tế đáng kể cho cộng đồng địa phương. Các sản phẩm du lịch như khám phá rừng ngập mặn, quan sát chim migratory, và trải nghiệm văn hóa địa phương thu hút du khách. Mô hình du lịch này giúp bảo tồn tài nguyên đồng thời tạo ra doanh thu ổn định cho cộng đồng.

II. Thực Trạng Bảo Tồn Đất Ngập Nước Hiện Nay

Vườn quốc gia Côn Đảo đã được công nhận nhằm bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước ven biển. Tuy nhiên, hoạt động du lịch không kiểm soát đang gây những tác động tiêu cực đến môi trường. Sự phát triển cơ sở hạ tầng, ô nhiễm từ du lịch và khai thác tài nguyên quá mức là những thách thức. Cần xây dựng những giải pháp bảo tồn bền vững kết hợp với phát triển du lịch có trách nhiệm. Việc điều tra, đánh giá hệ sinh thái và đề xuất cơ chế bảo vệ là cấp thiết.

2.1. Những Tác Động Tiêu Cực của Du Lịch

Hoạt động du lịch không quản lý gây ô nhiễm môi trường, phá hủy sinh cảnh, và tác động đến hành vi sinh vật. Khách du lịch quá tập trung gây áp lực lên hệ sinh thái. Phát triển cơ sở hạ tầng cũng làm mất đất ngập nước tự nhiên. Cần có cơ chế kiểm soát lượng khách, quy định hành vi du khách để giảm thiểu tác động môi trường.

2.2. Vai Trò Của Vườn Quốc Gia Côn Đảo

Vườn quốc gia Côn Đảo là công cụ bảo tồn đất ngập nước chính thức. Cơ quan quản lý VQG có trách nhiệm giám sát, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Kết hợp quản lý du lịch với bảo tồn là mục tiêu chính. Các chương trình giáo dục môi trường, hướng dẫn du lịch bền vững cần được tăng cường thực hiện.

III. Định Hướng Giải Pháp Phát Triển Bền Vững

Du lịch gắn với bảo tồn là hướng đi đúng đắn cho Côn Đảo. Cần xây dựng mô hình du lịch sinh thái có kiểm soát chất lượng thay vì tăng lượng khách. Các biện pháp bao gồm: phân vùng du lịch, hạn chế số du khách, xây dựng quy chuẩn hành vi, tăng cường giáo dục môi trường. Cộng đồng địa phương phải tham gia vào quá trình ra quyết định và hưởng lợi từ du lịch. Phát triển bền vững yêu cầu cân bằng giữa kinh tế, môi trường và xã hội.

3.1. Mô Hình Du Lịch Sinh Thái Có Kiểm Soát

Thay vì phát triển du lịch hàng loạt, cần áp dụng du lịch sinh thái chất lượng cao. Hạn chế số lượng khách tham gia mỗi tour, tăng giá vé để lọc du khách có ý thức bảo vệ môi trường. Xây dựng tuyến du lịch bền vững với hạ tầng phù hợp. Đào tạo hướng dẫn viên chuyên nghiệp về bảo tồn. Kết quả là giảm tác động môi trường đồng thời tăng doanh thu từ du lịch chất lượng.

3.2. Tham Gia Cộng Đồng và Chia Sẻ Lợi Ích

Cộng đồng địa phương phải là lợi ích chính của phát triển du lịch. Tạo việc làm, đào tạo kỹ năng, hỗ trợ kinh doanh du lịch cho người dân. Thiết lập cơ chế chia sẻ doanh thu từ du lịch cho quỹ bảo tồn. Khuyến khích các hoạt động du lịch cộng đồng như homestay, du lịch nông thôn. Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng bảo tồn đất ngập nước.

IV. Biện Pháp Thực Hiện và Kỳ Vọng Tương Lai

Để đạt được phát triển du lịch gắn với bảo tồn, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cộng đồng, doanh nghiệp du lịch. Các chính sách bảo vệ đất ngập nước phải được thực thi nghiêm ngặt. Cần có đầu tư vào cơ sở hạ tầng xanh, các công trình không gây tổn hại đến môi trường. Nâng cao nhận thức du khách và cơ quan quản lý về bảo tồn. Xây dựng hệ thống giám sát định kỳ để đánh giá tác động du lịch. Mục tiêu là Côn Đảo trở thành mô hình du lịch bền vững của khu vực.

4.1. Chính Sách và Quy Định Quản Lý

Xây dựng quy định bảo tồn đất ngập nước cụ thể với hình phạt vi phạm rõ ràng. Phân vùng bảo tồn ngặt nghèo, vùng du lịch kiểm soát, vùng phục hồi. Cấp phép du lịch dựa trên đánh giá tác động môi trường. Kiểm tra định kỳ để đảm bảo tuân thủ. Liên kết với các luật pháp quốc tế về bảo tồn đất ngập nước.

4.2. Kỳ Vọng và Tầm Nhìn Dài Hạn

Côn Đảo có tiềm năng trở thành điểm đến du lịch sinh thái tiên phong Việt Nam. Kỳ vọng bảo tồn được hệ sinh thái đất ngập nước nguyên vẹn, tăng doanh thu du lịch bền vững, nâng cao chất sống cộng đồng. Phát triển du lịch gắn bảo tồn tạo giá trị kinh tế - xã hội - môi trường lâu dài. Cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để tối ưu hóa cân bằng phát triển - bảo tồn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về du lịch gắn với bảo tồn đất ngập nước ven biển 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch gắn với bảo tồn đất ngập nước ven biển 1.

Ở trên thế giới Vấn đề du lịch bền vững gắn với bảo tồn các hệ sinh thái đất ngập nước được đặc biệt quan tâm trên quy mô toàn cầu. Bởi vậy, rất nhiều công trình tổng hợp các sáng kiến thực hành hoạt động du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước, trong đó có nhiều vùng đất ngập nước ven biển đã được xuất bản hoặc được tài trợ bởi các tổ chức lớn, như UNEP và GEF (Rainforest Alliance & Conservation International, 2011), Ban thư ký Công ước Ramsar và UNWTO (Ramsar Convention Secretariat & UNWTO, 2012), IUCN (IUCN, 2012),WWF (Stefano, 2004); cùng nhiều dự án khác (Parks and Benefits, 2012),. Các giải pháp thực hành du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đã được tổng hợp khá chi tiết trong nhiều công trình nghiên cứu, như: quản lý tài nguyên và năng lượng bền vững trong du lịch vùng đất ngập nước (Rainforest Alliance & Conservation International, 2011) (IUCN, 2012); lập kế hoạch và quản lý du lịch bền vững để tăng cường khả năng bảo tồn (Ramsar Convention Secretariat & UNWTO, 2012); đánh giá dịch vụ hệ sinh thái và tính toán sức tải môi trường (Parks and Benefits, 2012),… Trong đó, công trình Destination wetlands: supporting sustainable tourism của Thư ký Công ước Ramsar và UNWTO (2012) là công trình tiêu biểu, đưa ra các kinh nghiệm cho hoạt động du lịch với ví dụ tại 14 vùng đất ngập nước khác nhau trên khắp thế giới, nhằm đạt đa mục tiêu: vừa phát triển du lịch, giải trí, vừa bảo tồn đất ngập nước, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và đồng thời hỗ trợ văn hóa địa phương (Ramsar Convention Secretariat & UNWTO, 2012). Công trình Biodiversity: My Hotel in Action của IUCN (2012) tập hợp rất nhiều sáng kiến dành riêng cho các cơ sở kinh doanh nhà hàng và lưu trú trong vùng đất ngập nước, từ khai thác và sử dụng nguồn nguyên vật liệu xây dựng bản địa và thân thiện với môi trường, sử dụng nguyên liệu nấu ăn có nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp,…đến quản lý nguồn năng lượng, rác thải hiệu quả,… (IUCN, 2012).

5 Một số quốc gia cũng đã tham gia triển khai các dự án du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, có thể kể đến như Úc (Hansen Partnership Ltd. Chiến lược phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước của các quốc gia như Iran, Úc cũng tập trung vào các hoạt động quản lý du lịch sinh thái hiệu quả. Đa dạng các giải pháp có liên quan cũng được ghi nhận trong nhiều công trình của cá nhân các nhà khoa học, như: đề xuất gia tăng phí tham quan và đóng góp một phần cho hoạt động bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước như nghiên cứu của Lamsal và cộng sự (Lamsal, Atreya, Pant, & Kumar, 2016), Duim và cộng sự (Duim & Henkens, 2007); giải pháp thực hành khai thác và tiêu thụ nguồn nước ngọt hiệu quả trong du lịch để đảm bảo bảo vệ môi trường hệ sinh thái vùng đất ngập nước (Stefano, 2004); tăng cường mức độ tham gia quản lý du lịch sinh thái và nâng cao trách nhiệm của các công ty lữ hành ở vùng đất ngập nước (Lin, 2011); tổ chức các hoạt động du lịch khác nhau phù hợp với đa dạng mục đích của khách đến tham quan (Suleen, Tomás, Jesús, & Guzmán, 2016); nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý giữa các cấp khác nhau (Khoshkam, Marzuki, & Arzjani, 2014); thiết lập công cụ quản lý cho các nhà lập kế hoạch địa phương để giám sát và đánh giá các hoạt động phát triển kinh tế trong tương lai liên quan đến du lịch dựa trên một bộ chỉ số đo lường tính bền vững (Ghoochani, Ghanian, Khosravipour, & Crotts, 2020). Ở Việt Nam Hiện nay, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cụ thể về phát triển du lịch bền vững ở các vùng đất ngập nước còn khá ít ỏi, và chủ yếu quan tâm đến hướng phát triển du lịch sinh thái, có thể kể đến gồm: Nghiên cứu về phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu Ramsar Xuân Thủy (Hậu & Tuyết, Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu Ramsar Xuân Thủy (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), 2015); Phát triển du lịch sinh thái khu Ramsar Bàu Sấu – Vườn Quốc gia Cát Tiên (Hậu & Tuyền, 2017); Đánh giá tiềm năng để phát triển điểm đến du lịch sinh thái tại Khu Ramsar Láng Sen (tỉnh Long An) (Hậu & Tuyền, 2015); Nghiên cứu đề xuất du lịch sinh thái của khu Ramsar Mũi Cà Mau – khu Ramsar thứ 5 của Việt Nam (Phung, Vu, & Nguyen, 2017); Nghiên cứu về phát triển sản phẩm du lịch sinh thái của Khu Ramsar Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (Triết, Thanh, & Nga, 2019).

6 Dự án “Bảo vệ rùa biển phục vụ phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng tại khu bảo tồn biển Hòn Cau, tỉnh Bình Thuận” chính thức được triển khai từ ngày 01/4/2016 đến 31/8/2018 với mục đích “Ngăn chặn sự gia tăng và giảm thiểu các mối đe dọa đối với các bãi đẻ của Rùa biển tại khu bảo tồn biển Hòn Cau có sự tham gia của cộng đồng, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn vốn thiên nhiên cho phát triển du lịch sinh thái trong tương lai” (The GEF Small Grants Programme & Hội nông dân huyện Tuy Phong, 2018). Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu về bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước ở trên thế giới và ở trong nước, có thể nhận thấy rằng vấn đề bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đã rất được quan tâm bởi chính phủ, các tổ chức và các nhà khoa học. Rất nhiều các quy định và giải pháp về bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước nói chung, bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước gắn với phát triển du lịch bền vững nói riêng đã được đề xuất cho nhiều vùng bảo tồn quan trọng trên thế giới. Nhiều nhóm giải pháp được đưa ra như: nhóm giải pháp về tài chính; nhóm giải pháp về tiết kiệm và sử dụng hợp lý nguồn năng lượng, sử dụng nguyên vật liệu thân thiện với môi trường; nhóm giải pháp về lối sống xanh; nhóm giải pháp về tăng cường nhận thức và năng lực tham gia của cộng đồng địa phương; nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả đồng quản lý… 1.

Tổng quan các công trình nghiên cứu, dự án bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch huyện Côn Đảo Trong những năm qua, một số dự án bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển đã được triển khai tại Côn Đảo. Dự án GEF/UNDP hướng tới mục tiêu tăng cường năng lực địa phương để bảo tồn đa dạng sinh học biển và ven biển tại Côn Đảo, cải thiện việc lồng ghép bảo tồn và quản lý môi trường vào lập kế hoạch phát triển, thiết lập cơ chế tài chính bền vững cho bảo tồn đa dạng sinh học, và gắn liền các nỗ lực địa phương với việc xây dựng chính sách và chiến lược quốc gia, qua đó góp phần bảo tồn đa dạng sinh học biển và ven biển có ý nghĩa toàn cầu. Bên cạnh đó, Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo phối hợp với Viện Hải Dương học Nha Trang hoàn thiện Dự án lựa chọn mô hình ứng dụng phục hồi san hô cứng tại khu Ramsar Vườn. Chương trình du lịch sinh thái đang từng bước phát triển đem lại hiệu quả trong việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học Côn Đảo và nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư, góp phần làm tăng trưởng kinh tế huyện đảo.

Vườn còn thực hiện quan trắc môi trường nước biển định kỳ 2 lần/tháng, gồm các chỉ tiêu: Nhiệt độ, độ pH và độ mặn để theo dõi diễn biến các hệ sinh thái 7 biển. Phương án quản lý rừng bền vững VQG Côn Đảo đến năm 2030 cũng đã được BQL VQG Côn Đảo chủ trì xây dựng với sự kết hợp của Trung tâm nghiên cứu rừng và đất ngập nước và Viện Hải dương học vào năm 2020, đưa ra đầy đủ giải pháp chiến lược để quản lý rừng bền vững trong giai đoạn tới, trong đó vùng đất ngập nước là phân khu quan trọng trong phạm vi của đề án (BQL VQG Côn Đảo, 2020). Hoạt động du lịch tại Côn Đảo cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Dự án “Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển và ven biển tại Côn Đảo” được thực hiện bởi Ban Quản lý VQG Côn Đảo, UNDP và WWF đã thông qua phát triển du lịch sinh thái để đảm bảo tính bền vững của đa dạng sinh học biển và ven biển (UNDP, 2009).

Philip Hayward, Giang Thuy Huu Tran (2014) đã đề cập đến ý nghĩa lịch sử cách mạng ở Côn Đảo, đánh giá đặc điểm tài nguyên phục vụ loại hình du lịch kỷ niệm chiến tranh và kế hoạch phát triển du lịch ở Côn Đảo (Hayward & Tran, 2014). Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt bản quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2030, trong đó xác định du lịch bền vững, du lịch xanh là những định hướng phát triển cơ bản của du lịch Côn Đảo. Năm 2021, BQL VQG Côn Đảo cũng đã xây dựng Đề án Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí ở VQG Côn Đảo giai đoạn đến năm 2030 với các sản phẩm, tuyến điểm du lịch, các điểm cho thuê môi trường rừng để làm dịch vụ du lịch kèm theo kế hoạch, giải pháp chi tiết (BQL VQG Côn Đảo, 2021). Ngoài ra, các thông tin về điều kiện và tài nguyên tự nhiên, điều kiện kinh tế- xã hội của VQG Côn Đảo cũng được tổng hợp khá chi tiết trong bộ hồ sơ để đề cử Khu Ramsar năm 2013 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) và Vườn Di sản Asean năm 2022 (BQL VQG Côn Đảo, 2022).

Như vậy, đã có khá nhiều nghiên cứu về hoạt động du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học ở Côn Đảo. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu phát triển du lịch gắn với bảo tồn vùng đất ngập nước ven biển huyện Côn Đảo nói chung và VQG Côn Đảo nói riêng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ