CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về du lịch gắn với bảo tồn đất ngập nước ven biển 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch gắn với bảo tồn đất ngập nước ven biển 1.
Ở trên thế giới Vấn đề du lịch bền vững gắn với bảo tồn các hệ sinh thái đất ngập nước được đặc biệt quan tâm trên quy mô toàn cầu. Bởi vậy, rất nhiều công trình tổng hợp các sáng kiến thực hành hoạt động du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước, trong đó có nhiều vùng đất ngập nước ven biển đã được xuất bản hoặc được tài trợ bởi các tổ chức lớn, như UNEP và GEF (Rainforest Alliance & Conservation International, 2011), Ban thư ký Công ước Ramsar và UNWTO (Ramsar Convention Secretariat & UNWTO, 2012), IUCN (IUCN, 2012),WWF (Stefano, 2004); cùng nhiều dự án khác (Parks and Benefits, 2012),. Các giải pháp thực hành du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đã được tổng hợp khá chi tiết trong nhiều công trình nghiên cứu, như: quản lý tài nguyên và năng lượng bền vững trong du lịch vùng đất ngập nước (Rainforest Alliance & Conservation International, 2011) (IUCN, 2012); lập kế hoạch và quản lý du lịch bền vững để tăng cường khả năng bảo tồn (Ramsar Convention Secretariat & UNWTO, 2012); đánh giá dịch vụ hệ sinh thái và tính toán sức tải môi trường (Parks and Benefits, 2012),… Trong đó, công trình Destination wetlands: supporting sustainable tourism của Thư ký Công ước Ramsar và UNWTO (2012) là công trình tiêu biểu, đưa ra các kinh nghiệm cho hoạt động du lịch với ví dụ tại 14 vùng đất ngập nước khác nhau trên khắp thế giới, nhằm đạt đa mục tiêu: vừa phát triển du lịch, giải trí, vừa bảo tồn đất ngập nước, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và đồng thời hỗ trợ văn hóa địa phương (Ramsar Convention Secretariat & UNWTO, 2012). Công trình Biodiversity: My Hotel in Action của IUCN (2012) tập hợp rất nhiều sáng kiến dành riêng cho các cơ sở kinh doanh nhà hàng và lưu trú trong vùng đất ngập nước, từ khai thác và sử dụng nguồn nguyên vật liệu xây dựng bản địa và thân thiện với môi trường, sử dụng nguyên liệu nấu ăn có nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp,…đến quản lý nguồn năng lượng, rác thải hiệu quả,… (IUCN, 2012).
5 Một số quốc gia cũng đã tham gia triển khai các dự án du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, có thể kể đến như Úc (Hansen Partnership Ltd. Chiến lược phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước của các quốc gia như Iran, Úc cũng tập trung vào các hoạt động quản lý du lịch sinh thái hiệu quả. Đa dạng các giải pháp có liên quan cũng được ghi nhận trong nhiều công trình của cá nhân các nhà khoa học, như: đề xuất gia tăng phí tham quan và đóng góp một phần cho hoạt động bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước như nghiên cứu của Lamsal và cộng sự (Lamsal, Atreya, Pant, & Kumar, 2016), Duim và cộng sự (Duim & Henkens, 2007); giải pháp thực hành khai thác và tiêu thụ nguồn nước ngọt hiệu quả trong du lịch để đảm bảo bảo vệ môi trường hệ sinh thái vùng đất ngập nước (Stefano, 2004); tăng cường mức độ tham gia quản lý du lịch sinh thái và nâng cao trách nhiệm của các công ty lữ hành ở vùng đất ngập nước (Lin, 2011); tổ chức các hoạt động du lịch khác nhau phù hợp với đa dạng mục đích của khách đến tham quan (Suleen, Tomás, Jesús, & Guzmán, 2016); nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý giữa các cấp khác nhau (Khoshkam, Marzuki, & Arzjani, 2014); thiết lập công cụ quản lý cho các nhà lập kế hoạch địa phương để giám sát và đánh giá các hoạt động phát triển kinh tế trong tương lai liên quan đến du lịch dựa trên một bộ chỉ số đo lường tính bền vững (Ghoochani, Ghanian, Khosravipour, & Crotts, 2020). Ở Việt Nam Hiện nay, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cụ thể về phát triển du lịch bền vững ở các vùng đất ngập nước còn khá ít ỏi, và chủ yếu quan tâm đến hướng phát triển du lịch sinh thái, có thể kể đến gồm: Nghiên cứu về phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu Ramsar Xuân Thủy (Hậu & Tuyết, Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu Ramsar Xuân Thủy (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), 2015); Phát triển du lịch sinh thái khu Ramsar Bàu Sấu – Vườn Quốc gia Cát Tiên (Hậu & Tuyền, 2017); Đánh giá tiềm năng để phát triển điểm đến du lịch sinh thái tại Khu Ramsar Láng Sen (tỉnh Long An) (Hậu & Tuyền, 2015); Nghiên cứu đề xuất du lịch sinh thái của khu Ramsar Mũi Cà Mau – khu Ramsar thứ 5 của Việt Nam (Phung, Vu, & Nguyen, 2017); Nghiên cứu về phát triển sản phẩm du lịch sinh thái của Khu Ramsar Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (Triết, Thanh, & Nga, 2019).
6 Dự án “Bảo vệ rùa biển phục vụ phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng tại khu bảo tồn biển Hòn Cau, tỉnh Bình Thuận” chính thức được triển khai từ ngày 01/4/2016 đến 31/8/2018 với mục đích “Ngăn chặn sự gia tăng và giảm thiểu các mối đe dọa đối với các bãi đẻ của Rùa biển tại khu bảo tồn biển Hòn Cau có sự tham gia của cộng đồng, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn vốn thiên nhiên cho phát triển du lịch sinh thái trong tương lai” (The GEF Small Grants Programme & Hội nông dân huyện Tuy Phong, 2018). Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu về bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước ở trên thế giới và ở trong nước, có thể nhận thấy rằng vấn đề bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đã rất được quan tâm bởi chính phủ, các tổ chức và các nhà khoa học. Rất nhiều các quy định và giải pháp về bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước nói chung, bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước gắn với phát triển du lịch bền vững nói riêng đã được đề xuất cho nhiều vùng bảo tồn quan trọng trên thế giới. Nhiều nhóm giải pháp được đưa ra như: nhóm giải pháp về tài chính; nhóm giải pháp về tiết kiệm và sử dụng hợp lý nguồn năng lượng, sử dụng nguyên vật liệu thân thiện với môi trường; nhóm giải pháp về lối sống xanh; nhóm giải pháp về tăng cường nhận thức và năng lực tham gia của cộng đồng địa phương; nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả đồng quản lý… 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu, dự án bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch huyện Côn Đảo Trong những năm qua, một số dự án bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển đã được triển khai tại Côn Đảo. Dự án GEF/UNDP hướng tới mục tiêu tăng cường năng lực địa phương để bảo tồn đa dạng sinh học biển và ven biển tại Côn Đảo, cải thiện việc lồng ghép bảo tồn và quản lý môi trường vào lập kế hoạch phát triển, thiết lập cơ chế tài chính bền vững cho bảo tồn đa dạng sinh học, và gắn liền các nỗ lực địa phương với việc xây dựng chính sách và chiến lược quốc gia, qua đó góp phần bảo tồn đa dạng sinh học biển và ven biển có ý nghĩa toàn cầu. Bên cạnh đó, Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo phối hợp với Viện Hải Dương học Nha Trang hoàn thiện Dự án lựa chọn mô hình ứng dụng phục hồi san hô cứng tại khu Ramsar Vườn. Chương trình du lịch sinh thái đang từng bước phát triển đem lại hiệu quả trong việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học Côn Đảo và nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư, góp phần làm tăng trưởng kinh tế huyện đảo.
Vườn còn thực hiện quan trắc môi trường nước biển định kỳ 2 lần/tháng, gồm các chỉ tiêu: Nhiệt độ, độ pH và độ mặn để theo dõi diễn biến các hệ sinh thái 7 biển. Phương án quản lý rừng bền vững VQG Côn Đảo đến năm 2030 cũng đã được BQL VQG Côn Đảo chủ trì xây dựng với sự kết hợp của Trung tâm nghiên cứu rừng và đất ngập nước và Viện Hải dương học vào năm 2020, đưa ra đầy đủ giải pháp chiến lược để quản lý rừng bền vững trong giai đoạn tới, trong đó vùng đất ngập nước là phân khu quan trọng trong phạm vi của đề án (BQL VQG Côn Đảo, 2020). Hoạt động du lịch tại Côn Đảo cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Dự án “Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển và ven biển tại Côn Đảo” được thực hiện bởi Ban Quản lý VQG Côn Đảo, UNDP và WWF đã thông qua phát triển du lịch sinh thái để đảm bảo tính bền vững của đa dạng sinh học biển và ven biển (UNDP, 2009).
Philip Hayward, Giang Thuy Huu Tran (2014) đã đề cập đến ý nghĩa lịch sử cách mạng ở Côn Đảo, đánh giá đặc điểm tài nguyên phục vụ loại hình du lịch kỷ niệm chiến tranh và kế hoạch phát triển du lịch ở Côn Đảo (Hayward & Tran, 2014). Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt bản quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2030, trong đó xác định du lịch bền vững, du lịch xanh là những định hướng phát triển cơ bản của du lịch Côn Đảo. Năm 2021, BQL VQG Côn Đảo cũng đã xây dựng Đề án Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí ở VQG Côn Đảo giai đoạn đến năm 2030 với các sản phẩm, tuyến điểm du lịch, các điểm cho thuê môi trường rừng để làm dịch vụ du lịch kèm theo kế hoạch, giải pháp chi tiết (BQL VQG Côn Đảo, 2021). Ngoài ra, các thông tin về điều kiện và tài nguyên tự nhiên, điều kiện kinh tế- xã hội của VQG Côn Đảo cũng được tổng hợp khá chi tiết trong bộ hồ sơ để đề cử Khu Ramsar năm 2013 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) và Vườn Di sản Asean năm 2022 (BQL VQG Côn Đảo, 2022).
Như vậy, đã có khá nhiều nghiên cứu về hoạt động du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học ở Côn Đảo. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu phát triển du lịch gắn với bảo tồn vùng đất ngập nước ven biển huyện Côn Đảo nói chung và VQG Côn Đảo nói riêng.