Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái toàn cầu và tạo động lực phát triển kinh tế du lịch. Trên thế giới, các rạn san hô tại vùng biển Caribe đã tạo ra giá trị du lịch ước tính khoảng 4,7 tỷ USD mỗi năm, trong khi công viên biển Great Barrier Reef tại Úc thu hút bình quân 1,8 triệu lượt khách mỗi năm. Tại Việt Nam, huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là quần đảo gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích đất nổi 75,2 km2, sở hữu Vườn quốc gia Côn Đảo – khu Ramsar biển đầu tiên và là khu Ramsar thứ 6 của Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên đạt 19.883,15 ha.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh chóng và áp lực bảo tồn tính đa dạng sinh học nhạy cảm của hệ sinh thái đất ngập nước. Giai đoạn 2016-2020 chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của lượng khách du lịch, gây sức ép nặng nề lên nguồn tài nguyên nước ngọt, hạ tầng xử lý rác thải và môi trường sống của các loài sinh vật biển. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng phát triển du lịch gắn với bảo tồn đất ngập nước ven biển tại Côn Đảo, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững theo tinh thần Nghị định số 66/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào vùng đất ngập nước ven biển Côn Đảo có độ sâu không quá 6m khi thủy triều kiệt theo Công ước Ramsar và mở rộng ra toàn huyện Côn Đảo đối với các hoạt động kinh tế - xã hội. Phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2019-2021 kết hợp dữ liệu điều tra thực địa năm 2022. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương thực hiện mục tiêu đưa Côn Đảo thành đảo du lịch sinh thái chất lượng cao vào năm 2030, đồng thời bảo vệ nguyên vẹn 1.800 ha rạn san hô và hơn 1.000 ha thảm cỏ biển quý giá.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết phát triển bền vững của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (Báo cáo Brundtland 1987) và quan điểm tiếp cận hệ sinh thái của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 2008). Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa ba trụ cột: bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước, phát triển kinh tế du lịch và nâng cao sinh kế cộng đồng bản địa. Khung lý thuyết làm rõ 4 khái niệm nền tảng: Du lịch, Du lịch bền vững (theo Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO), Đất ngập nước (theo Công ước Ramsar 1971 quy định vùng nước có độ sâu không quá 6m khi triều thấp) và Du lịch sinh thái.

Lý thuyết chỉ rõ du lịch nếu được quản lý khoa học sẽ trở thành công cụ tài chính đắc lực hỗ trợ công tác bảo tồn, tương tự như mô hình Công viên Quốc gia Kenting đã thu hút hơn 10.000 lượt khách tham gia du lịch sinh thái cộng đồng hay mô hình quản lý năng lượng sạch và xử lý nước thải tuần hoàn tại khu nghỉ dưỡng Couran Cove (Úc). Ngược lại, du lịch phát triển tự phát sẽ làm suy thoái môi trường sống tự nhiên và cạn kiệt tài nguyên cục bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo, Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo giai đoạn 2019-2021 và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua 2 đợt khảo sát thực địa trong năm 2022 (đợt 1 từ 15/3 đến 23/3/2022; đợt 2 từ 28/7 đến 6/8/2022). Tác giả tiến hành điều tra xã hội học với cỡ mẫu gồm 106 hộ gia đình địa phương tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch và 100 du khách lưu trú tại đảo.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng cho khối hộ gia đình tại 9 khu dân cư, tập trung cao ở các khu 2, 3, 5, 7 thuộc trung tâm thị trấn nhằm phản ánh chính xác cơ cấu lao động. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trực tiếp tại các bãi biển, cảng tàu và sân bay được sử dụng đối với du khách để bảo đảm tính khách quan. Nghiên cứu lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả trên phần mềm Excel 2019 để lượng hóa các biến số về thu nhập, mức chi tiêu và sự hài lòng. Ma trận phân tích SWOT được lựa chọn nhằm xác định chính xác các điểm mạnh, điểm yếu nội tại cùng cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng phương án quy hoạch du lịch sinh thái.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên đất ngập nước ven biển Côn Đảo có mức độ đa dạng sinh học đặc biệt cao với 1.800 ha rạn san hô chứa 1.323 loài sinh vật, hơn 1.000 ha thảm cỏ biển và hơn 21 ha rừng ngập mặn phát triển độc đáo trên nền sỏi cát. Đây là nơi bảo tồn rùa biển lớn nhất Việt Nam với 18 bãi rùa đẻ, ghi nhận khoảng 2.000 lượt rùa mẹ lên bãi và hơn 100.000 rùa con được cứu hộ thả về biển mỗi năm.

Thứ hai, hoạt động du lịch tạo chuyển biến tích cực trong cơ cấu việc làm và thu nhập của 106 hộ dân được khảo sát: 29,2% hộ tham gia dịch vụ vận tải với thu nhập bình quân đạt 19,4 triệu đồng/tháng; 28,3% hộ bán hàng lưu niệm đạt 12,9 triệu đồng/tháng; 23,6% hộ kinh doanh ăn uống đạt 12,7 triệu đồng/tháng; 14,2% hộ kinh doanh khách sạn đạt 15,6 triệu đồng/tháng và 13,2% hộ cung cấp hải sản đạt 17,7 triệu đồng/tháng.

Thứ ba, hồ sơ khảo sát 100 du khách chỉ ra 81% khách ở độ tuổi 19-45 (nhóm 19-30 tuổi chiếm 37%, nhóm 31-45 tuổi chiếm 44%), phần lớn đến từ TP. Hồ Chí Minh (24%) và Hà Nội (19%). Du khách di chuyển bằng máy bay chiếm tỷ lệ 82% và tàu cao tốc chiếm 12%. Mục đích ra đảo chủ yếu là đi lễ tâm linh (76%) và tham quan khám phá (67%). Mức chi tiêu cá nhân khá cao với 40,2% du khách chi trên 7 triệu đồng và 36,9% chi từ 5-7 triệu đồng cho chuyến đi.

Thảo luận kết quả

Khi dữ liệu được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện mức chi tiêu và biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu phương tiện di chuyển, kết quả phản ánh Côn Đảo có sức hút mạnh mẽ đối với dòng khách có khả năng chi trả cao. Tuy nhiên, thời gian lưu trú còn ngắn với 48% khách ở lại 2 ngày và 30% khách ở 3 ngày. Mức thu nhập bình quân ngành du lịch dao động từ 15,6 đến 19,4 triệu đồng/tháng cho thấy du lịch là đòn bẩy kinh tế quan trọng vượt trội so với các ngành sản xuất truyền thống trên đảo.

Bảng tổng hợp ý kiến cư dân và du khách bộc lộ áp lực gay gắt lên hệ thống cấp nước ngầm tại 3 hồ chứa chính (hồ Quang Trung, An Hải, Lò Vôi) và hạ tầng xử lý rác thải. So sánh với bài học tại Khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang (thu 150.000 USD phí tham quan năm 2006 và trích lại 115.000 USD cho công tác bảo tồn), cơ chế trích nguồn thu từ 14 nhà đầu tư và 3 công ty lặn biển tại Vườn quốc gia Côn Đảo hiện nay vẫn chưa tương xứng để tái thiết các rạn san hô bị tổn thương. Sản phẩm du lịch sinh thái còn đơn điệu, phụ thuộc lớn vào tính mùa vụ từ tháng 4 đến tháng 10.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, thiết lập hạn ngạch sức chứa du lịch và kiểm soát chặt chẽ tại các đảo nhỏ nhạy cảm. Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo cần phối hợp cùng các đơn vị lữ hành giới hạn lượng khách tối đa không quá 100 khách/ngày tại Hòn Bảy Cạnh và Hòn Cau trong mùa rùa đẻ (tháng 4 đến tháng 10), áp dụng hệ thống cấp mã vé điện tử trước năm 2024 nhằm giảm 30% tác động tiêu cực của tiếng ồn và ánh sáng lên bãi đẻ tự nhiên.

Hai là, triển khai cơ chế tài chính bền vững thông qua việc trích nộp phí dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước. Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo và Sở Tài chính cần ban hành quy định trích thu phí bảo tồn từ 50.000 đến 100.000 đồng/khách trên mỗi tour biển đảo, phấn đấu tạo lập nguồn quỹ tự chủ đạt 15 đến 20 tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2024-2026 để đầu tư phục hồi san hô và duy trì quan trắc chất lượng nước biển định kỳ 2 lần/tháng.

Ba là, đa dạng hóa và chuẩn hóa 6 tuyến du lịch sinh thái chất lượng cao theo định hướng đến năm 2030. Doanh nghiệp du lịch phối hợp với Vườn quốc gia Côn Đảo khai thác chuyên sâu tuyến Côn Sơn – Vịnh Đầm Tre và Côn Sơn – Hòn Tre Nhỏ gắn với trải nghiệm 21 ha rừng ngập mặn và ngắm chim biển di cư, hướng tới mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 2 ngày lên 3,5 ngày trước năm 2027.

Bốn là, chuyển đổi mô hình kinh tế xanh và tuần hoàn tài nguyên tại các cơ sở lưu trú. Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo cần quy định bắt buộc 100% khách sạn và homestay áp dụng thiết bị tiết kiệm nước và xử lý nước thải đạt chuẩn trước năm 2025, hỗ trợ 106 cơ sở kinh doanh chuyển sang sử dụng bao bì tự phân hủy, giảm 50% lượng rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để hoạch định chính sách phân vùng khai thác, thiết lập biểu phí môi trường rừng và triển khai các phương án bảo tồn nghiêm ngặt tại 18 bãi đẻ của rùa biển trong quy hoạch giai đoạn 2023-2030.

Nhóm 2: Doanh nghiệp lữ hành, vận tải và lưu trú du lịch. Dữ liệu khảo sát chi tiết về hành vi và khả năng chi trả của 100 du khách (40,2% chi tiêu trên 7 triệu đồng) là tài liệu giá trị giúp doanh nghiệp xây dựng các gói tour sinh thái cao cấp, kết hợp giải pháp vận hành tiết kiệm năng lượng theo tiêu chuẩn xanh.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Địa lý, Du lịch học và Khoa học Môi trường. Đề tài là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp điều tra xã hội học với 106 hộ dân, ứng dụng mô hình SWOT và phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong nghiên cứu địa lý du lịch biển đảo.

Nhóm 4: Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng dân cư địa phương. Luận văn cung cấp bằng chứng khoa học giúp nâng cao nhận thức cộng đồng cho hơn 2.900 hộ dân trên đảo, hỗ trợ người dân chuyển đổi sinh kế và nâng mức thu nhập gia đình vượt mốc 19,4 triệu đồng/tháng từ các dịch vụ thân thiện với thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận văn đã sử dụng quy mô mẫu khảo sát thực địa như thế nào? Trả lời: Nghiên cứu thực hiện điều tra trên 106 hộ gia đình tham gia dịch vụ du lịch tại 9 khu dân cư và 100 khách du lịch lưu trú tại Côn Đảo. Cỡ mẫu hộ dân tập trung trên 70% tại các khu 2, 3, 5 và 7 thuộc thị trấn Côn Đảo, đảm bảo phản ánh chuẩn xác cơ cấu kinh tế - xã hội địa phương.

Câu hỏi 2: Thu nhập bình quân của người dân Côn Đảo từ dịch vụ du lịch đạt mức bao nhiêu? Trả lời: Kết quả khảo sát cho thấy lao động du lịch đạt mức thu nhập khá cao: nhóm dịch vụ vận tải đạt bình quân 19,4 triệu đồng/tháng; kinh doanh cung cấp hải sản đạt 17,7 triệu đồng/tháng; hướng dẫn viên du lịch đạt 17,4 triệu đồng/tháng và nhân viên khách sạn đạt 15,6 triệu đồng/tháng.

Câu hỏi 3: Hệ sinh thái đất ngập nước Vườn quốc gia Côn Đảo sở hữu những giá trị sinh học nổi bật nào? Trả lời: Khu vực sở hữu 1.800 ha rạn san hô với 1.323 loài sinh vật, hơn 1.000 ha thảm cỏ biển và 21 ha rừng ngập mặn đặc trưng trên sỏi cát. Nơi đây duy trì 18 bãi rùa đẻ, tiếp nhận khoảng 2.000 lượt rùa mẹ và hỗ trợ ấp nở thả về đại dương hơn 100.000 rùa con mỗi năm.

Câu hỏi 4: Thách thức môi trường lớn nhất đối với du lịch Côn Đảo hiện nay là gì? Trả lời: Thách thức lớn nhất là nguy cơ quá tải nguồn cấp nước ngọt từ 3 hồ chứa chính và năng lực xử lý rác thải trước tốc độ tăng trưởng du khách. Bên cạnh đó, hoạt động bơi lặn ngắm san hô thiếu kiểm soát đe dọa trực tiếp đến 1.800 ha rạn san hô nguyên sinh.

Câu hỏi 5: Luận văn đề xuất định hướng phát triển những tuyến du lịch sinh thái nào đến năm 2030? Trả lời: Nghiên cứu định hướng phát triển 6 tuyến du lịch sinh thái kết nối đảo lớn Côn Sơn với các đảo nhỏ, nổi bật là tuyến Côn Sơn – Hòn Bảy Cạnh – Hòn Cau và tuyến Vịnh Đầm Tre, lồng ghép hoạt động khám phá 46 loài thực vật ngập mặn và bảo tồn rùa biển.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng tự nhiên trên 19.883,15 ha diện tích Vườn quốc gia Côn Đảo, khẳng định tiềm năng to lớn của 1.800 ha rạn san hô và 18 bãi rùa đẻ trong chuỗi giá trị du lịch sinh thái.
  • Xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác thông qua điều tra 106 hộ dân địa phương (thu nhập từ 15,6 đến 19,4 triệu đồng/tháng) và 100 du khách (40,2% chi tiêu trên 7 triệu đồng).
  • Đề xuất hoàn thiện 6 tuyến du lịch sinh thái biển đảo đồng thời xác định hạn ngạch sức tải môi trường nghiêm ngặt tại các điểm bảo tồn rùa biển và san hô.
  • Xây dựng cơ chế tài chính trích thu phí dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước nhằm tạo nguồn ngân sách bền vững phục vụ công tác quan trắc và bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2024-2030.
  • Khẳng định mối quan hệ cộng sinh giữa bảo tồn đất ngập nước và du lịch bền vững là chìa khóa bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân và giữ vững an ninh chủ quyền biển đảo.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và bộ giải pháp đồng bộ phục vụ quy hoạch không gian du lịch sinh thái tại khu Ramsar Côn Đảo. Các cơ quan quản lý cần sớm ban hành quy chế kiểm soát sức chứa du khách trước năm 2025. Hãy chung tay bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước Côn Đảo vì sự phát triển bền vững của biển đảo Việt Nam ngay hôm nay.