Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng gắn liền với các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, VJEPA và các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các doanh nghiệp Việt Nam đối diện với môi trường cạnh tranh khốc liệt trước các tổ chức kinh tế có ưu thế về công nghệ và năng lực tài chính. Để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững, yêu cầu cấp bách đặt ra cho các đơn vị kinh doanh là phải thường xuyên phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực quản trị.
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ – Quảng Ngãi là doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước quan trọng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, quản lý diện tích rừng trên phạm vi 09 xã và 01 thị trấn thuộc huyện Ba Tơ, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững FSC. Mặc dù doanh nghiệp duy trì được nguồn thu và lợi nhuận tương đối ổn định qua các năm, song thực tế quản lý cho thấy mức chi phí vận hành vẫn còn cao, chưa tối đa hóa được lợi nhuận tiềm năng. Bên cạnh đó, trình độ quản trị, năng lực ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác khai thác lâm sản còn nhiều hạn chế, đồng thời các biện pháp kiểm soát giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên trong quá trình sản xuất chưa đạt hiệu quả tối ưu. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Phân tích hoạt động kinh doanh của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ – Quảng Ngãi" được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm ba nhiệm vụ:
- Khái quát các cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty.
- Phân tích, làm rõ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2019 – 2020.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty trong giai đoạn 2019 – 2020 và định hướng phát triển đến năm 2026.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ – Quảng Ngãi. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại trụ sở (km27, Quốc lộ 24, xã Ba Cung, huyện Ba Tơ) và các đơn vị, đội sản xuất trực thuộc công ty trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2022, sử dụng các số liệu hạch toán, báo cáo tài chính và kết quả kỹ thuật lâm sinh giai đoạn 2019 – 2020, kết hợp số liệu chuỗi theo dõi khai thác, trồng rừng giai đoạn 2012 – 2020 và 2016 – 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài xây dựng trên nền tảng kinh tế học doanh nghiệp về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tác giả xác định bản chất của hiệu quả kinh doanh là mối quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đầu ra thu được với chi phí nguồn lực đầu vào bỏ ra (Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra / Chi phí đầu vào), phản ánh chất lượng khai thác các nguồn lực như vốn, lao động và kỹ thuật nhằm phục vụ mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Khung phân tích xem xét tác động của hai nhóm nhân tố:
- Nhân tố khách quan: môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý, môi trường công nghệ, môi trường tự nhiên (khí hậu, thời tiết, mùa vụ khai thác) và đối thủ cạnh tranh.
- Nhân tố chủ quan: lực lượng lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực quản trị doanh nghiệp.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá được tác giả chuẩn hóa thành các nhóm công thức định lượng cụ thể:
- Chỉ số hoạt động: Vòng quay hàng tồn kho (Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân); Số ngày một vòng quay hàng tồn kho (360 / Số vòng quay hàng tồn kho).
- Năng lực thanh toán: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát (Tổng tài sản / Tổng nợ phải trả).
- Tỷ suất sinh lời: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (Lợi nhuận ròng / Doanh thu thuần); Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản).
- Hiệu quả chi phí: Lợi nhuận thuần / Tổng chi phí.
- Hiệu suất và hiệu quả lao động: Doanh thu / Tổng số lao động; Lợi nhuận sau thuế / Tổng số lao động.
- Hiệu suất và hiệu quả sử dụng tài sản cố định (TSCĐ): Doanh thu / TSCĐ; Lợi nhuận sau thuế / TSCĐ.
- Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững FSC và các quy định pháp lý liên quan: Nghị định số 90/2019/NĐ-CP của Chính phủ về mức lương tối thiểu vùng; các quyết định thành lập và đổi tên doanh nghiệp (Quyết định số 06/1999/QĐ-UB, Quyết định số 2138/QĐ-BNN-TCCB, Quyết định số 535/QĐ-BNN-ĐMDN).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm ba phương pháp chủ đạo:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tập hợp số liệu từ các bảng cân đối kế toán năm 2020, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2019 – 2020, các báo cáo tổng kết kỹ thuật lâm sinh, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của UBND huyện Ba Tơ và báo cáo kế hoạch năm 2021 của công ty.
- Phương pháp thống kê: Phân loại, tổng hợp và hệ thống hóa dữ liệu chuỗi thời gian về tài chính, lao động và lâm sinh.
- Phương pháp phân tích, so sánh: Áp dụng kỹ thuật so sánh số tuyệt đối và so sánh số tương đối nhằm đo lường xu hướng biến động của từng chỉ tiêu giữa năm 2019 và năm 2020; kết hợp phương pháp thay thế liên hoàn (loại trừ dần), phương pháp cân đối và liên hệ kinh tế để bóc tách mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nội dung chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa cơ bản về kinh doanh, hiệu quả kinh doanh, phân biệt kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tác giả phân tích vai trò của hiệu quả đối với sự sống còn của doanh nghiệp, quyền lợi người lao động và nguồn thu ngân sách nhà nước. Đồng thời, chương này trình bày chi tiết các nhóm nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp, nguyên lý các phương pháp so sánh, liên hệ cân đối và xây dựng hệ thống chỉ tiêu lượng hóa hiệu quả tài chính - kỹ thuật. Cuối chương, tác giả khái quát tình hình nghiên cứu liên quan thông qua các công trình của Trần Đức Trung (2015), Đoàn Thị Nga (2017) và Dương Ngọc Hà (2017), xác định tính kế thừa lý luận và điểm nhấn phân tích chuyên sâu cho loại hình doanh nghiệp lâm nghiệp.
Chương 2: Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ - Quảng Ngãi
Chương này trình bày lịch sử hình thành từ Lâm trường Ba Tơ thành lập năm 1977, trải qua các đợt chuyển đổi năm 1999, 2004 và chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV năm 2008/2009. Cơ cấu tổ chức gồm Ban lãnh đạo (Hội đồng thành viên, Ban giám đốc, Kiểm soát viên), 03 phòng nghiệp vụ (Tổ chức hành chính, Kế toán – Tài chính, Lâm nghiệp) và 06 đơn vị, đội trực thuộc (Đội thiết kế các hạng mục lâm sinh, Đội Lâm nghiệp Ba Trang – Ba Khâm, Đội Lâm nghiệp Sông Liên, Đội Lâm nghiệp Cao Muôn, Đội giống cây Lâm nghiệp, Cửa hàng xăng dầu).
Thực trạng tài chính và hiệu quả kinh doanh giai đoạn 2019 – 2020 thể hiện qua các chỉ tiêu tổng hợp:
| Chỉ tiêu phân tích |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Chênh lệch tương đối (%) |
| Doanh thu tiêu thụ |
Cơ sở |
Giảm |
-1,99% |
| Tổng chi phí |
44.000.xxx VNĐ |
42.000.xxx VNĐ |
-2,81% |
| Lợi nhuận sau thuế |
Cơ sở |
Giảm 155.478 VNĐ |
-7,25% |
| Sức sinh lời của chi phí |
0,049 |
0,045 |
-8,16% |
| Hệ số thanh toán tổng quát |
3,78 lần |
3,92 lần |
+3,70% |
| Hệ số thanh toán tạm thời |
4,86 lần |
3,46 lần |
-28,81% |
Doanh thu thuần suy giảm do hoạt động bán hàng gặp trở ngại từ dịch COVID-19 và các cơn bão số 9, số 12, số 13. Cơ cấu chi phí ghi nhận một số khoản gia tăng: chi phí tài chính tăng 69.085 VNĐ (+80,96%), chi phí bán hàng tăng 71.473 VNĐ (+11,58%), chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 342.383 VNĐ (+5,57%), chi phí khác tăng 11.384 VNĐ (+9,31%). Một số khoản được tiết giảm: chi phí đào tạo giảm 4,96%, chi phí môi trường giảm 40,65%, chi phí duy tu bảo dưỡng đường giảm 100%.
Hoạt động khai thác và kỹ thuật lâm sinh:
- Khai thác gỗ rừng trồng: Duy trì tăng trưởng, năm 2020 sản lượng khai thác đạt 33.455 m3 gỗ, doanh thu đạt trên 30 triệu nghìn đồng.
- Lâm sản ngoài gỗ (LSNG): Năm 2020 đạt giá trị thu gom từ mây nước (83 kg), rau dớn (260 kg), rau ranh (456 kg), nấm mối (140 kg), mật ong (559 kg, doanh thu 44.720 nghìn đồng), sầu đâu rừng (455 kg) và củi khai thác đạt 3.477 kg.
- Dịch vụ xăng dầu: Số lượng bán và doanh thu năm 2020 sụt giảm mạnh so với năm 2019 do giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển.
- Thống kê diện tích rừng trồng: Tổng diện tích rừng trồng lũy kế giai đoạn 1981 – 2020 đạt 1.981,34 ha. Riêng năm 2020 diện tích trồng mới đạt 477,22 ha (tăng 1,41% so với 338,04 ha năm 2019). Cơ cấu loài cây gồm keo lai (chiếm ưu thế lớn với 1.830,53 ha lũy kế), keo lá tràm (111,75 ha), keo tai tượng (22,66 ha), bạch đàn (8,37 ha), thông (6,85 ha trồng 1981-1986), dầu và sao (0,78 ha), sao đen (0,40 ha). Tăng trưởng bình quân hàng năm của rừng đạt 24,1 m3/ha.
Nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng tài sản:
| Chỉ tiêu về lao động và tài sản |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Biến động |
| Tổng số lao động thường xuyên |
46 người |
46 người |
Không đổi |
| Hiệu suất sử dụng lao động (DT/LĐ) |
Cơ sở |
Giảm |
-2,00% |
| Hiệu quả sử dụng lao động (LNST/LĐ) |
46.423.xxx VNĐ |
Giảm |
-7,25% |
| Hiệu suất sử dụng TSCĐ (DT/TSCĐ) |
8,85 lần |
7,76 lần |
-12,31% |
| Hiệu quả sử dụng TSCĐ (LNST/TSCĐ) |
0,41 lần |
0,34 lần |
-17,07% |
| Số vòng quay hàng tồn kho |
0,76 vòng |
0,84 vòng |
+10,53% |
| Số ngày một vòng quay hàng tồn kho |
473,68 ngày |
428,57 ngày |
-45,11 ngày |
Về cơ cấu nhân sự năm 2020, tổng số 46 lao động gồm 26 người có trình độ đại học và trên đại học (56,52%), 12 người có trình độ cao đẳng - trung cấp (26,09%), 8 người sơ cấp và phổ thông (17,39%). Tỷ lệ nam giới chiếm 87% (40 người), nữ giới chiếm 13% (6 người); lao động dân tộc thiểu số chiếm 17% (8 người); độ tuổi bình quân toàn công ty là 39 tuổi.
Đánh giá thực hiện trách nhiệm xã hội và tiêu chuẩn FSC: Công ty đảm bảo mức thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên là 8,7 triệu đồng/người/tháng. Đối với cộng đồng địa phương, hoạt động lâm nghiệp tạo việc làm cho hơn 68.000 ngày công với hơn 5.000 lượt người tham gia, mức lương bình quân 5,87 triệu đồng/người/tháng (vượt mức thu nhập bình quân đầu người của huyện Ba Tơ là 2,84 triệu đồng/tháng và lương tối thiểu vùng theo Nghị định 90/2019/NĐ-CP là 3,07 triệu đồng/tháng). Giá trị sản phẩm dôi dư chi trả cho các hộ nhận khoán năm 2020 đạt 12.002 triệu đồng (bình quân 30 triệu đồng/lượt hộ). Tổng chi phí thực hiện công tác xã hội đạt 51,68 triệu đồng (công ty trích 33,6 triệu đồng, vận động người lao động đóng góp 18,08 triệu đồng).
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ - Quảng Ngãi
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả xây dựng ba nhóm định hướng giải pháp cụ thể:
- Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, khai thác: Lập kế hoạch quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học theo tiêu chuẩn FSC; thực hiện nghiêm ngặt hồ sơ thiết kế khai thác tỉa thưa; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo, tập huấn kỹ thuật lâm sinh và an toàn vệ sinh lao động.
- Biện pháp về kinh doanh, tài chính và tín dụng: Rà soát, cắt giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp; khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ; kiểm soát các kênh phân phối, đẩy mạnh bán hàng trực tuyến và mở rộng thị trường tiêu thụ lâm sản để bù đắp ảnh hưởng thiên tai, dịch bệnh.
- Giải pháp bảo vệ môi trường và tài nguyên rừng: Tuân thủ quy trình khai thác giảm thiểu tác động môi trường; chọn loài cây trồng rừng phù hợp điều kiện lập địa (keo lai, keo lá tràm, bạch đàn); duy trì bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, nghiêm cấm khai thác làm suy thoái môi trường sinh thái.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể phản ánh thực trạng tài chính và vận hành của công ty:
- Về công tác luân chuyển vốn: Quản trị hàng tồn kho chuyển biến tích cực khi vòng quay hàng tồn kho tăng từ 0,76 vòng lên 0,84 vòng (+10,53%), giúp số ngày luân chuyển giảm 45,11 ngày (từ 473,68 ngày xuống 428,57 ngày). Hệ số khả năng thanh toán tổng quát tăng từ 3,78 lên 3,92 lần, đảm bảo an toàn khả năng chi trả.
- Về sản xuất và lâm sinh: Sản lượng khai thác gỗ năm 2020 đạt 33.455 m3; diện tích trồng rừng năm 2020 tăng lên 477,22 ha; diện tích keo lai tích lũy đạt 1.830,53 ha trên tổng số 1.981,34 ha đất rừng trồng của công ty; sản lượng gỗ tăng trưởng bình quân đạt 24,1 m3/ha/năm.
- Về các chỉ tiêu sụt giảm: Doanh thu tiêu thụ giảm 1,99%, lợi nhuận sau thuế giảm 7,25% (tương ứng giảm 155.478 VNĐ), sức sinh lời của chi phí giảm từ 0,049 xuống 0,045 (-8,16%); hiệu suất sử dụng TSCĐ giảm 12,31% và hiệu quả sử dụng TSCĐ giảm 17,07%. Nguyên nhân xuất phát từ tác động của thiên tai (bão số 9, 12, 13), dịch bệnh COVID-19 và việc gia tăng các khoản chi phí tài chính (+80,96%), chi phí bán hàng (+11,58%) và chi phí quản lý (+5,57%).
- Đóng góp xã hội: Mô hình khoán rừng mang lại hiệu quả rõ rệt khi chia sẻ lợi ích với cộng đồng; chi trả giá trị sản phẩm dôi dư 12.002 triệu đồng cho hộ khoán; giải quyết hơn 68.000 ngày công lao động với mức thu nhập 5,87 triệu đồng/người/tháng.
So với các công trình nghiên cứu trước đây vốn chủ yếu tiếp cận thuần túy dưới góc độ báo cáo tài chính tổng quát, đóng góp thực tiễn của đề tài là việc tích hợp giữa phân tích tài chính doanh nghiệp với hệ thống chỉ tiêu kỹ thuật lâm sinh chuyên ngành (tăng trưởng trữ lượng m3/ha, cơ cấu lập địa loài cây keo lai, keo lá tràm, chứng chỉ rừng FSC) và lượng hóa cụ thể hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách giao khoán rừng tại vùng miền núi Ba Tơ, Quảng Ngãi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế nghiên cứu được tác giả thừa nhận trong văn bản bao gồm:
- Thời gian nghiên cứu thực tế tại doanh nghiệp còn ngắn (từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2022) và hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn nên một số phân tích, nhận định và giải pháp đề xuất còn mang tính chủ quan.
- Chuỗi dữ liệu tài chính chi tiết tập trung chủ yếu vào việc so sánh đối ứng giữa hai năm 2019 và 2020, chưa phản ánh đầy đủ chu kỳ kinh doanh dài hạn của cây rừng trồng (chu kỳ khai thác thường kéo dài 5 – 8 năm).
- Dữ liệu hoạt động kinh doanh phụ trợ (dịch vụ xăng dầu, lâm sản ngoài gỗ) chỉ dừng lại ở số liệu thống kê doanh thu và sản lượng, chưa bóc tách riêng được giá thành và chi phí quản lý cụ thể cho từng mảng hoạt động độc lập.
Hướng nghiên cứu mở rộng được xác định dựa trên phạm vi đề tài: Cần theo dõi chuỗi số liệu tài chính trong giai đoạn phục hồi hậu dịch bệnh (2021 – 2026); phân tích sâu hơn bài toán chi phí - lợi ích của từng loài cây trồng lâm nghiệp mới (như bạch đàn cấy mô, cây bản địa) và hoàn thiện các mô hình chuỗi giá trị chế biến sâu gỗ rừng trồng có chứng chỉ FSC nhằm nâng cao giá trị gia tăng.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông lâm nghiệp và Quản trị tài chính doanh nghiệp khi nghiên cứu phương pháp luận phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp đặc thù ngành lâm nghiệp.
Phần nội dung đáng tham khảo nhất của tài liệu là chương 2, đặc biệt là hệ thống bảng biểu đối chiếu giữa chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu lâm sinh (diện tích loài cây, tăng trưởng trữ lượng gỗ, cơ cấu phân chia sản phẩm dôi dư giữa công ty và hộ nhận khoán). Đây là tài liệu minh họa thực tế cho các nhà quản lý doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước trong việc cân đối giữa mục tiêu bảo toàn vốn, duy trì tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc tế (FSC) và giải quyết chính sách việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa bàn vùng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Tình hình biến động doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2020 diễn ra như thế nào và nguyên nhân chính là gì?
Năm 2020, doanh thu của công ty giảm 1,99% và lợi nhuận sau thuế giảm 7,25% (tương ứng giảm 155.478 VNĐ) so với năm 2019. Sức sinh lời của chi phí giảm 8,16% (từ 0,049 xuống 0,045). Nguyên nhân chính là do sự tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 làm đình trệ công tác bán hàng, cùng với hậu quả nặng nề của các cơn bão số 9, số 12 và số 13 làm hư hại và cản trở việc khai thác rừng; đồng thời các khoản chi phí tài chính (+80,96%), chi phí bán hàng (+11,58%) và chi phí quản lý doanh nghiệp (+5,57%) tăng cao.
2. Cơ cấu nguồn nhân lực và trình độ chuyên môn của công ty năm 2020 được ghi nhận với những số liệu nào?
Công ty có tổng số 46 lao động thường xuyên. Về trình độ: 26 người đạt trình độ đại học và trên đại học (chiếm 56,52%), 12 người có trình độ cao đẳng - trung cấp (26,09%), 8 người trình độ sơ cấp và phổ thông (17,39%). Về cơ cấu: 40 nam (87%), 6 nữ (13%); có 8 lao động là người dân tộc thiểu số (chiếm 17%); độ tuổi bình quân toàn công ty là 39 tuổi (khối quản lý 44 tuổi, khối chuyên môn 34 tuổi, khối các đội sản xuất 40 tuổi).
3. Hoạt động liên kết giao khoán rừng với người dân địa phương đem lại kết quả cụ thể ra sao trong năm 2020?
Chính sách giao khoán tạo sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng: Năm 2020, các hộ nhận khoán được hưởng giá trị sản phẩm dôi dư đạt 12.002 triệu đồng (bình quân 30 triệu đồng/lượt hộ), cao hơn lợi nhuận giữ lại của công ty. Ngoài ra, các hoạt động lâm sinh của công ty đã giải quyết việc làm cho hơn 68.000 ngày công với hơn 5.000 lượt người tham gia, thu nhập bình quân đạt 5,87 triệu đồng/người/tháng, cao hơn mức thu nhập bình quân của huyện Ba Tơ (2,84 triệu đồng/người/tháng).
4. Khả năng thanh toán và tình hình luân chuyển hàng tồn kho của doanh nghiệp giai đoạn 2019 – 2020 biến động như thế nào?
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát tăng từ 3,78 lần (năm 2019) lên 3,92 lần (năm 2020), phản ánh 1 đồng nợ vay được đảm bảo bằng 3,92 đồng tài sản. Hệ số thanh toán tạm thời giảm từ 4,86 lần xuống 3,46 lần (-28,81%). Quản trị hàng tồn kho có sự cải thiện rõ rệt: Số vòng quay hàng tồn kho tăng từ 0,76 vòng lên 0,84 vòng (+10,53%), giúp thời gian của một vòng quay hàng tồn kho rút ngắn từ 473,68 ngày xuống còn 428,57 ngày (giảm 45,11 ngày).
5. Cơ cấu diện tích rừng trồng tích lũy của công ty tính đến năm 2020 phân bổ theo những loài cây nào?
Tổng diện tích rừng trồng tích lũy của công ty đạt 1.981,34 ha. Trong đó, keo lai chiếm diện tích chủ đạo với 1.830,53 ha; tiếp theo là keo lá tràm với 111,75 ha; keo tai tượng đạt 22,66 ha; bạch đàn đạt 8,37 ha; thông chiếm 6,85 ha (trồng từ giai đoạn 1981 – 1986); hỗn giao dầu và sao chiếm 0,78 ha; sao đen chiếm 0,40 ha.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mai Văn Tuấn đã phản ánh chi tiết bức tranh hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ – Quảng Ngãi trong giai đoạn 2019 – 2020. Nghiên cứu chỉ rõ mặc dù các chỉ tiêu lợi nhuận, hiệu quả sử dụng tài sản cố định và chi phí bị sụt giảm do thiên tai bão lũ và dịch bệnh, công ty vẫn duy trì khả năng thanh toán an toàn, cải thiện tốc độ luân chuyển hàng tồn kho và thực hiện tốt chứng chỉ rừng bền vững FSC. Kết quả phân tích khẳng định mô hình liên kết giao khoán rừng không chỉ bảo tồn diện tích rừng trồng mà còn tạo nguồn thu nhập và sinh kế ổn định cho cộng đồng dân cư địa phương tại huyện Ba Tơ.