Chương I, Luật Du lịch Việt Nam 2005 số 44/2005/QH11 6 Điều 34, Chương V, Luật Du lịch Việt Nam 2005 số 44/2005/QH11 7 Tháng 08 năm 2012 là mốc thời gian đánh dấu 5 năm bùng phát cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính mang tính hệ thống toàn cầu, tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của các nƣớc trên thế giới. Tình hình kinh tế Trong giai đoạn 2007 – 2012, tình hình kinh tế thế giới luôn trong tình trạng đối mặt với nhiều biến động thị trƣờng ở các nƣớc lớn bao gồm Mỹ, Nhật Bản và Khối Thịnh vƣợng chung EU. Sự kiện đánh dấu mốc “thay đổi nền kinh tế thế giới” diễn ra vào ngày 09 tháng 08 năm 2007 khi ngân hàng “BNP Paribas” của Pháp đã tuyên bố ngừng hoạt động ba quỹ đầu tƣ do không thể xác định chính xác giá cổ phiếu theo các hợp đồng đã ký với các chủ đầu tƣ trên thị trƣờng nhà đất Mỹ. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính đã bắt đầu ở Mỹ và lan tỏa mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia ở các châu lục.
Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng này là do tình trạng đầu tƣ tràn lan, mất kiểm soát dẫn đến “nợ xấu không có khả năng thanh khoản”, chủ yếu là đƣa tiền tệ vào mục đích kinh doanh siêu lợi nhuận dẫn đến việc sụp đổ toàn bộ hệ thống tài chính của thế giới. Thêm vào đó, tình trạng khủng hoảng giá lƣơng thực, khủng hoảng nhiên liệu, khủng hoảng an toàn thực phẩm cũng kéo theo những gánh nặng tài chính khó giải quyết cho các nhà lãnh đạo các nƣớc. Từ đầu năm 2008 đến tháng 05 năm 2008, khắp thế giới chỉ tồn tại hai từ “lạm phát”, đặc biệt ở các nƣớc sử dụng chung đồng tiền Euro bị ảnh hƣởng nặng nề. Khu vực châu Á mức lạm phát cũng đạt 7,5% - con số cao nhất trong 9 năm qua (1999 – 2008).
Giải pháp tạm thời tung ra các gói hỗ trợ của chính phủ các nƣớc đƣợc thực hiện nhƣng không mang lại hiệu quả khả quan hơn. Cho đến năm 2011, tình trạng khủng hoảng kinh tế - tài chính vẫn chƣa có những dấu hiệu phục hồi đáng kể. Tuy nhiên, điểm sáng của nền kinh tế thế giới đƣợc đặt vào châu Á. Trong khi các nhà chức trách châu Âu đang phải đau đầu tháo gỡ nợ công thì các nƣớc châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ dƣờng nhƣ không bị quá nhiều ảnh hƣởng dựa vào xuất khẩu khu vực.
Nguồn dự trữ tài chính lớn của Trung Quốc đã tạo ra một xu hƣớng mới trên thế giới. Tình hình chính trị - xã hội Năm 2008 đƣợc xem là điểm đỏ trên trƣờng chính trị của thế giới. Từ đầu năm là cuộc khủng hoảng chính trị tại Italia, khiến chính phủ phải tuyên bố giải tán quốc hội với chỉ 23 tháng tồn tại. Tiếp đến là liên tiếp các cuộc khủng hoảng chính trị ở Gruzia, 8 Liban, Zimbabwe, Mông Cổ, Ukraine, Nam Phi…, khiến tình hình thế giới, vốn đang phải vật lộn với cơn bão khủng hoảng tài chính từ Mỹ, vô hình chung cũng bị tác động không nhỏ.
Ở khu vực Đông Nam Á, diễn biến căng thẳng và dai dẳng nhất là cuộc khủng hoảng trên chính trƣờng Thái Lan. Sau khi lực lƣợng đối lập tiến hành cuộc đảo chính quân sự lật đổ Thủ tƣớng Thaksin Shinawatra vào tháng 09 năm 2006 thì đến năm 2008, lực lƣợng đối lập tiếp tục ép buộc Thủ tƣớng Samak Sundaravej và Thủ tƣớng Somchai từ chức với những cáo buộc tham nhũng và gian lận trong bầu cử. Đến năm 2009, tình hình chính trị khu vực Đông Nam Á vẫn rơi vào tình trạng rối ren và khủng hoảng. Tình hình chính trị giữa Thái Lan – Campuchia căng thẳng khi lực lượng quân sự của hai nước đã đối đầu tại đền Preah Vihear.
Mối quan hệ giữa hai nước ngày càng trở nên xấu hơn khi Thủ tướng Campuchia đã mời Cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra làm cố vấn kinh tế. Tại Indonesia, sau khi đắc cử, Tân Tổng Thống Bambang Yudhoyono đã thực hiện những cải cách kinh tế - xã hội tạo ra triển vọng cho thời kì phát triển ổn định và vững mạnh của Indonesia. Tuy nhiên, Tổng thống Yudhoyono cũng đang dính vào những vụ bê bối tham nhũng. Tại Malaysia, một cuộc biểu tình lớn đòi quyền tự do dân sự đã diễn ra vào tháng 08 thể hiện sự thất vọng chính trị của nhân dân về giới cầm quyền.
Tại Phillippines, uy tín chính quyền đã bị giảm sút do vấp phải những phản đối của tầng lớp nghèo khó. Chính quyền nội bộ cũng đối mặt với tình trạng rối ren và bất ổn nghiêm trọng. Tình hình Đông Bắc Á cũng không có những bƣớc tiến đáng kể. Triều Tiên vẫn đang rơi vào khủng hoảng hạt nhân.
Tuy nhiên, các nhà chức trách nƣớc này đã bắt đầu có những động thái tích cực hơn trong quan hệ với Mỹ và Hàn Quốc. Khu vực Nam Á phải hứng chịu hàng loạt các vụ khủng bố liên tiếp xảy ra. Khu vực này luôn tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng quân sự, nhất là khi quan hệ giữa 2 quốc gia Nam Á là Ấn Độ và Pakistan đều sở hữu vũ khí hạt nhân. Đây cũng là sào huyệt của các nhóm khủng bố Alqueda và Taliban hoạt động mạnh mẽ.
Khu vực tranh chấp 9 dầu khí giữa ba nƣớc Mỹ - Nga – Trung Quốc mang tính cạnh tranh, lôi kéo các tiểu quốc vào quỹ đạo của nƣớc mình. Tình hình an ninh khu vực Trung Đông không mấy cải thiện vì từ trƣớc đến nay, khu vực này vẫn đƣợc mệnh danh “lò thuốc súng”. Tình hình trên tiếp tục căng thẳng khi tiến trình hòa bình Trung Đông vừa đƣợc khởi động vào đầu năm nhƣng lại rơi vào ngõ cụt. Mỹ đã thực hiện kế hoạch rút quân vào năm 2011, tuy nhiên bạo lực và đổ máu vẫn tiếp tục gia tăng, tình trạng khủng bố trỗi dậy mạnh mẽ.
Cuộc cạnh tranh giữa các nƣớc lớn đối với nguồn dầu khí tại đây càng làm cho khu vực nóng bỏng hơn. Cuộc xung đột giữa Israel – Palestin lại rơi vào bế tắc khi hai bên cứ khăng khăng giữ quan điểm bảo thủ của mình. Tổng quan tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và TPHCM từ năm 2007 đến năm 2012 Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng số khách 2.419 du lịch quốc tế đến TPHCM Tổng số khách 4.678 du lịch quốc tế đến Việt Nam (Đơn vị: lƣợt ngƣời) (Nguồn: Tổng cục Du lịch –Bộ văn hóa thể thao và du lịch Việt Nam, Sở văn hóa thể thao và du lịch TPHCM) Bảng 1. Tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và TPHCM từ năm 2007 đến năm 2012 (trừ 2010) 10 6847678 7000000 6014032 6000000 5000000 Tổng số khách du 4171564 4253740 lịch quốc tế đến 3772359 4000000 TPHCM Tổng số khách du 2795419 3000000 2536990 lịch quốc tế đến Việt 2004711 2128429 2031247 Nam 2000000 1000000 0 2007 2008 2009 2011 2012 (Đơn vị: lƣợt ngƣời) (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TPHCM và Tổng cục Du lịch Việt Nam) Biểu đồ 1.
Tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và TPHCM từ năm 2007 đến năm 2012 (trừ 2010) Dựa vào bảng 1 và biểu đồ 1, tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2012 tăng từ 4.564 lƣợt ngƣời (năm 2007) lên 6.678 lƣợt ngƣời (năm 2012), tƣơng đƣơng tăng 64,15%, nhƣng tăng không liên tục, vì vậy nhóm tác giả chia giai đoạn 2007 – 2012 thành 2 thời kỳ nhỏ: - Từ năm 2007 đến năm 2009: nhìn chung, tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn này giảm từ 4.564 lƣợt ngƣời xuống 3.359 lƣợt ngƣời, trong đó, năm 2008 là năm du lịch Việt Nam thu hút lƣợng khách du lịch quốc tế cao nhất với 4.740 lƣợt ngƣời, tăng 82.176 lƣợt ngƣời so với năm 2007, và năm 2009 là năm có lƣợng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thấp nhất trong thời kỳ này nói riêng và toàn bộ giai đoạn 2007 – 2012 nói chung. 11 Nguyên nhân của việc giảm số lƣợng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời kỳ này là do ảnh hƣởng trong vấn đề khủng hoảng kinh tế toàn cầu (bắt đầu từ Mỹ) đã lan tỏa mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia trên thế giới; tình hình chính trị - an ninh của một số quốc gia rơi vào tình trạng xung đột và căng thẳng. - Từ năm 2009 đến năm 2012: tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh trở lại từ 3.359 lƣợt ngƣời lên 6.678 lƣợt ngƣời, tƣơng đƣơng tăng gấp 1,82 lần trong 3 năm. Nguyên nhân của việc tăng mạnh trở lại số lƣợng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời kỳ này là nhờ các chính sách thu hút và quảng bá du lịch của Việt Nam và hàng loạt các địa điểm tham quan của Việt Nam đƣợc xếp hạng, đặc biệt nhờ sự phục hồi về kinh tế và môi trƣờng sống nói chung tại khu vực Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dƣơng Dựa vào bảng 1 và biểu đồ 1, tổng số khách du lịch quốc tế đến TPHCM trong giai đoạn 2007 – 2012 tăng từ 2.711 lƣợt ngƣời (năm 2007) lên 2.419 lƣợt ngƣời (năm 2012), tƣơng đƣơng tăng 39,44%.
So với tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, tổng số khách du lịch quốc tế đến TPHCM tăng chậm hơn nhiều (39,44% so với 64,15%). - Từ năm 2007 đến năm 2009: tổng số khách du lịch quốc tế đến TPHCM trong giai đoạn này tăng rất ít, từ 2.711 lƣợt ngƣời lên 2.247 lƣợt ngƣời, trong đó, lƣợng khách du lịch quốc tế đến TPHCM tăng vào năm 2008 và giảm xuống vào năm 2009 tƣơng tự tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong cùng thời kỳ. - Từ năm 2009 đến năm 2012: tổng số khách du lịch quốc tế đến TPHCM cũng tăng rất ít, từ 2.247 lƣợt ngƣời lên 2.419 lƣợt ngƣời, tƣơng đƣơng chỉ tăng gấp 1,38 lần trong 3 năm. Cũng trong giai đoạn 2007 – 2012, tỉ lệ tổng số khách du lịch quốc tế đến TPHCM so với tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng giảm, từ 0,48 (năm 2007) xuống 0,41 (năm 2012).