CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm - Theo quan điểm truyền thống, dịch vụ là những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất. - Theo Philip Kotler, địch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cắp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyển sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất.
Bao quát hơn, dịch vụ bao gôm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, vượt ra ngoài sản phẩm hay dịch vụ cơ bản, phù hợp với giá cả, hình ảnh và uy tín có liên quan. - Theo Zeithaml va Britner (2000), dich vu là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. - Theo Kotler va Amrstrong (2004), địch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, cúng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Như vậy, dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Khi nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, theo điều 4, Luật du lịch “Dịch vụ dụ lịch là việc cung cắp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lich”. Tinh vô hình: Dịch vụ du lịch thường bao gồm cả những yếu tố hữu hình như ngồi trên ghế máy bay, ở trong phòng khách sạn, ăn trong nhà hàng, hay khi đi tham quan; nhưng căn bản việc thực hiện và kết quả của dịch vụ du lịch không thể nhìn tỉ được, khách du lịch mua sự trải nghiệm mà sự trải nghiệm thì không thể cầm được, không thể ngửi hay nếm được. trước khi mua chúng. Đặc điểm này dẫn đến việc xác định tiêu chuẩn trong cung ứng dịch vụ du lịch là rất khó hoặc thậm chí là không thể.
Vậy nên khách hàng cảm thấy rủi ro khi chỉ tiền cho một thứ mà họ không thể đo lường hay xác định được nó. Và trong hoạt động truyền thông, doanh nghiệp du lịch phải dựa vào tiêu chuẩn được quy định trước để nói về dịch vụ của mình và vận dụng những “bằng chứng vật chất” đề làm cho các yếu tố vô hình trở nên hữu hình. Tính không đồng nhất: rong khi các ngành sản xuất hàng hóa hữu hình như ô tô cho ra đời một khối lượng lớn được chuẩn hóa tốt nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn đã được ấn định trước thì phần lớn các doanh nghiệp cung. ứng dịch vụ du lịch có thể khác nhau ở những thời gian, địa điểm, nhân viên phục vụ.
và như vậy tất yếu nó tạo ra những dịch vụ cùng loại nhưng không. đồng nhất với nhau. Ví dụ cùng một dịch vụ làm thủ tục tại khách sạn, nhưng những khách hàng khác nhau có thể có những cảm nhận khác nhau về thời gian, sự thuận tiện, sự thân thiện của nhân viên. Những vấn đề liên quan đến đặc điểm này phần lớn xoay quanh sự thiếu khả năng tiêu chuẩn hóa sản phẩm hay phương cách cung ứng dịch vụ du lịch đó.
khắc phục, các doanh nghiệp du lịch cần chú ý đến việc tuyển chọn và huấn luyện nhân viên, xác. định một bản quy trình dịch vụ du lich va theo đði mức độ hài lòng của du khách. Tinh đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Trong khi hàng hóa được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyền đến nơi có nhu cau thi trong phần lớn trường hợp, một dịch vụ du lịch được tiêu dùng cùng lúc với thời gian hay cả địa điểm nó được cung ứng. Nhà sản xuất hàng hóa có thể đạt được tính kinh tế theo qui mô do sản xuất tập trung, hàng loạt và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung, có thể sản xuất khi nào thuận lợi, rồi cất vào kho.
và đem bán khi có nhu cầu, như vậy họ dễ thực hiện cân đối cung cầu. Còn đối với dịch vụ du lịch, sự tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ đôi khi lại là yêu cầu khách quan. Ví dụ như du khách phải tới nơi có các tài nguyên du lịch (Ngũ Hành Sơn) để tham quan, thưởng ngoạn; lưu trú tại khách sạn (đặt tại nơi có nguồn tài nguyên đó) và có mặt trên phương tiện khi tiêu dùng dịch vụ vận chuyển du lịch. Nhà quản trị doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch phải lưu ý đến những vấn đề phát sinh như: tỉ lệ lao động cao, phán đoán chủ quan cao, sự an toàn, không kiểm nghiệm trước, tính khó đoán trước, phong cách phục vụ, nhiều địa điểm tiếp xúc, biển báo, trang trí nội thất, phân phi 4.
Tính không lưu trữ được: Dịch vụ du lich có tính vô hình nên chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do đó, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt, cất giữ vào kho dự trữ, khi có nhu câu thị trường thì đem ra bán. Tính không thể lưu trữ của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà lượng cầu dn định bởi có thể dễ dàng chuẩn bị trước lực lượng nhân viên, cơ sở vật chất. Một máy bay cất cánh đúng giờ với một nửa số ghế bỏ trồng sẽ chịu lỗ chứ không thể để các chỗ trống đó lại bán vào các giờ khác khi có đông hành khách có nhu cầu bay tuyến đường bay đó.
Do đó các nhà quản trị phải xác. định được mức sản lượng tối ưu trong thời gian dài, cung đáp ứng được cầu và thực hiện một số chiến lực cân đối cung cầu tốt hơn trong một doanh nghiệp dịch vụ như: định giá phân biệt, tổ chức dịch vụ bổ sung, hệ thống đặt 13 chỗ trước, thuê nhân viên thời vụ, khuyến khích khách hàng tham gia. Vô hình Không đồng nhất Dịch vụ Đồng thời giữa sin Không lưu trữ xuất và tiêu dùng được Hình 1. Sơ đồ các đặc điểm dịch vụ 1.
CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm và các yếu tố cấu thành a. Khai nigm Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. - Theo Lehtinen va Lehtinen (1982), chdt lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh là quá trình cung cấp dịch vụ, kết quả của dịch vụ.
- Theo Gronroos (1984), cũng đẻ nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là chất lượng kỹ thuật và chat lượng chức năng. ~ Theo Parasuraman và cộng sự (1985, 1988), chất lượng dịch vụ được xem nhục khoảng cách giữa mong đợi vé dich vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Ông đưa ra mô hình năm khoảng cách ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ nhằm để xác định và đánh giá chất lượng dịch vụ. Trong lĩnh vực du lịch, chất lượng dịch vụ là thành phần vô cùng quan trọng trong cơ cầu của một sản phẩm du lịch.
Vì vậy, việc đánh giá chất lượng. dịch vụ rất quan trọng đối với cắp quản lý du lịch. Kết quả của việc đánh giá 14 là căn cứ giúp nhà quản lý du lịch nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng sự hài lòng và lòng trung thành của du khách, thu hút thêm nhiều du khách mới. Các yếu tố cấu thành + Một là trường phái Bắc Âu, theo Gronroos (1982), chất lượng dịch vụ bao gồm hai thành phần chủ yếu, đó là chất lượng kỹ thuật (technical quality) và chất lượng chức năng (functional quality).
Chất lượng kỹ thuật được thể hiện qua các tiêu chí kỹ thuật nên có thể đo lường và đánh giá định lượng được. Chăng hạn, thời gian chờ đợi của khách hàng đẻ được phục vu, thời gian thực hiện dịch vụ. Chất lượng chức năng rất khó xác định một cách khách quan. Có nhiều quan niệm cho rằng yếu tố “hình ảnh của công ty”, “thương hiệu” thuộc phạm trù chất lượng trên phương diện chức năng và ảnh hưởng quan trọng tới cảm nhận về chất lượng khách hàng.
Cùng một loại dịch vụ, nhưng với hai thương hiệu khác nhau thì sẽ mang lại cho khách hàng hai cảm nhận chất lượng khác nhau. s& Hai là trường phái Mỹ, dựa trên mô hình SERVQUAL với 5 biến số (Parasuraman và cộng sự, 1988) cho rằng chất lượng dịch vụ bao gồm những trải nghiệm của khách hàng về những khía cạnh hữu hình, đáng tin cây, đáp ứng, năng lực phục vụ và sự đồng cảm về dịch vụ nhận được. Tính vượt trội: Đôi với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt trội “ưu việt” của mình so với những sản phẩm khác. Chính tính ưu việt này làm cho chất lượng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ.
Sự đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự cảm nhận từ phía người sử dụng dịch vụ. Tính đặc trưng của sản phẩm: Chất lượng dịch vụ là tổng thé những. mặt cốt lõi nhất và tỉnh túy nhất kết tỉnh trong sản phẩm dịch vụ tạo nên tính 15 đặc trưng của sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng cao sẽ hàm chứa nhiều “đặc trưng vượt trội” hơn so với các dịch vụ cấp thấp.
Sự phân biệt này gắn liền với việc xác định các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm dịch vụ. Chính nhờ những đặc trưng này mà khách hàng có thể nhận biết chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp khác với đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó xác định các đặc trưng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy đủ và chính xác. Vì vậy, các đặc trưng này không có giá trị tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối giúp cho việc nhận xét chất lượng.
dịch vụ trong trường hợp cụ thể dễ dàng hơn. Tính cung ứng: Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ đến khách hàng. Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ và cung ứng dịch vụ sẽ quyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xi. Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung ứng dịch vụ.