Tổng quan nghiên cứu

Quản trị cung ứng dược phẩm và tối ưu hóa ngân sách y tế công lập là trụ cột then chốt trong chiến lược phát triển ngành dược Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Y tế, mức chi tiêu tiền thuốc bình quân đầu người tại nước ta ghi nhận xu hướng tăng trưởng liên tục, từ 48,39 USD năm 2017 lên 53,57 USD năm 2018, tương đương tốc độ tăng trưởng 10,6%. Song song với đó, thị trường dược phẩm mở rộng nhanh chóng với số lượng số đăng ký lưu hành tăng từ 19.704 số đăng ký vào năm 2015 lên 21.707 số đăng ký vào năm 2020. Sự đa dạng này đem lại nhiều giải pháp điều trị nhưng cũng tạo áp lực nặng nề cho công tác lựa chọn danh mục thuốc và kiểm soát chi phí khám chữa bệnh.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là đánh giá tính hiệu quả và mức độ tuân thủ quy định pháp luật trong việc thực hiện kết quả đấu thầu thuốc tập trung cấp địa phương. Đề tài tập trung vào hai mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, so sánh danh mục thuốc sử dụng thực tế với danh mục thuốc trúng thầu tập trung tại Sở Y tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020-2021. Thứ hai, phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện kết quả trúng thầu chưa đạt ngưỡng quy định tối thiểu. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 21 cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong khoảng thời gian từ tháng 9/2020 đến tháng 11/2021. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao tỷ lệ thực hiện hợp đồng thầu đạt chỉ tiêu tối thiểu 80% theo quy định tại Thông tư 15/2019/TT-BYT, giảm thiểu tồn đọng vốn ngân sách hàng chục tỷ đồng và thúc đẩy sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết quản lý chuỗi cung ứng dược phẩm công lập và các quy định pháp quy hiện hành, bao gồm Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Luật Dược số 105/2016/QH13 và hệ thống thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế như Thông tư 15/2019/TT-BYT, Thông tư 03/2019/TT-BYT, Thông tư 15/2020/TT-BYT. Các văn bản này quy định tiêu chí kỹ thuật phân chia nhóm thuốc từ Nhóm 1 đến Nhóm 5 đối với thuốc generic, nhóm thuốc biệt dược gốc, cùng gói thuốc cổ truyền và dược liệu.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng phương pháp phân tích kinh tế y tế ABC/VEN theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới và Thông tư 21/2013/TT-BYT. Hệ thống khái niệm chính bao gồm: Tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu với yêu cầu tối thiểu 80% giá trị hợp đồng đối với thuốc thông thường và tối thiểu 50% đối với thuốc cấp cứu, giải độc, thuốc hiếm; Phân tích ABC xác định nhóm A chiếm 75% đến 80% ngân sách nhưng chỉ chiếm 10% đến 20% số khoản mục; Phân tích ma trận VEN phân loại thuốc thành ba nhóm sống còn, thiết yếu và không thiết yếu nhằm tối ưu hóa danh mục mua sắm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là các tài liệu thứ cấp chính thống, bao gồm danh mục trúng thầu, thỏa thuận khung của Sở Y tế Hải Dương, báo cáo mua sắm và văn bản giải trình từ 21 cơ sở y tế công lập cùng báo cáo cung ứng của các nhà thầu giai đoạn 2020-2021.

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính. Cỡ mẫu định lượng bao gồm toàn bộ 1.295 khoản mục thuốc trúng thầu tập trung với tổng giá trị phê duyệt là 774,32 tỷ đồng. Cỡ mẫu định tính sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tiến hành phỏng vấn sâu 8 cán bộ lãnh đạo khoa Dược đại diện cho các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện hạng I, II, III và chuyên khoa, cùng 7 đại diện phụ trách kinh doanh từ các nhà thầu phân phối và sản xuất dược phẩm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ trọng kết hợp ma trận ABC/VEN là nhằm định lượng chính xác bức tranh tài chính, phát hiện các nhóm thuốc gây lãng phí ngân sách, đồng thời làm rõ nguyên nhân gốc rễ từ phía chính sách, cơ sở điều trị và nhà cung ứng trong suốt mốc thời gian từ tháng 9/2020 đến tháng 11/2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về tổng giá trị và số lượng khoản mục thực hiện, tổng giá trị trúng thầu tại Sở Y tế Hải Dương năm 2020-2021 đạt 774.318 triệu đồng, nhưng giá trị mua sắm thực tế chỉ đạt 614.401 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ 79,35%. Mức này chưa đạt chỉ tiêu tối thiểu 80% theo quy định tại Thông tư 15/2019/TT-BYT, khiến giá trị tiền thuốc chưa thực hiện lên tới 159.917 triệu đồng. Về số khoản mục, toàn tỉnh thực hiện được 1.137 trên tổng số 1.295 khoản mục trúng thầu, đạt tỷ lệ 87,80%, song vẫn còn 158 khoản mục hoàn toàn không được mua sắm (chiếm 12,20%).

Thứ hai, có sự chênh lệch rõ rệt giữa các gói thầu và nhóm tiêu chí kỹ thuật. Gói thuốc generic có giá trị thực hiện đạt 79,76% (657.754 triệu đồng), gói biệt dược gốc đạt 75,79% (37.802 triệu trên 49.880 triệu đồng), và gói thuốc cổ truyền đạt 78,02%. Đáng chú ý, thuốc generic Nhóm 1 đạt tỷ lệ thực hiện giá trị rất cao là 87,08% (221.605 triệu đồng), trong khi Nhóm 3 chỉ đạt 64,72% và Nhóm 4 (thuốc sản xuất trong nước) chỉ đạt 71,42%.

Thứ ba, phân tích cơ cấu ABC cho thấy sự phân bổ ngân sách chưa thực sự hợp lý. Nhiều mặt hàng thuộc nhóm không thiết yếu như vitamin, khoáng chất và thuốc dược liệu vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nhóm A (nhóm tiêu tốn 75% đến 80% tổng chi phí tiền thuốc), làm giảm nguồn lực dành cho các nhóm thuốc điều trị đặc hiệu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ thực hiện giá trị trúng thầu không đạt 80% tại Hải Dương xuất phát từ nhiều nguyên nhân tổng hợp. Về phía cơ sở khám chữa bệnh, nguyên nhân chính là việc dự trù số lượng chưa sát thực tế do cơ cấu bệnh tật biến động sau đại dịch, lượng bệnh nhân suy giảm, cùng tâm lý e ngại vượt quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Ngoài ra, việc tồn kho từ kỳ thầu trước và xu hướng ưu tiên sử dụng thuốc thay thế có giá thành thấp hơn cũng làm giảm lượng mua sắm thực tế. Về phía nhà thầu, tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu toàn cầu, nâng cấp dây chuyền sản xuất và chậm trễ thủ tục gia hạn số đăng ký lưu hành khiến nhiều mặt hàng không có hàng để giao. Về mặt chính sách, việc siết chặt điều kiện thanh toán bảo hiểm y tế theo Thông tư 30/2018/TT-BYT cũng tạo rào cản lớn.

Khi so sánh với các địa phương khác, tình trạng không đạt tỷ lệ 80% mang tính phổ biến trên phạm vi toàn quốc. Tỷ lệ giá trị thực hiện tại Sở Y tế Bắc Giang chỉ đạt 53,34%, tại Vĩnh Phúc là 40,30%, tại Đồng Nai là 63,75%, tại Hà Giang là 74,23% và tại Hưng Yên là 74,77%. Kết quả 79,35% của Hải Dương là một nỗ lực đáng ghi nhận nhưng vẫn đòi hỏi các biện pháp quản trị quyết liệt hơn.

Để phục vụ công tác quản lý trực quan, các dữ liệu này có thể được biểu diễn hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ giá trị giữa trúng thầu và thực hiện ở từng nhóm kỹ thuật, kết hợp bảng ma trận phân loại ABC/VEN giúp các nhà quản lý nhận diện tức thì các khoản mục có mức độ tiêu thụ bất thường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch và dự trù nhu cầu thuốc. Các cơ sở y tế công lập cần ứng dụng phần mềm quản lý dược bệnh viện để phân tích dữ liệu tiêu thụ thực tế của 3 năm liền kề, tính toán lượng tồn kho an toàn và bám sát phác đồ điều trị. Mục tiêu là nâng độ chính xác của dự trù lên trên 90%, giảm tỷ lệ khoản mục thuốc không sử dụng xuống dưới 5% trong vòng 6 tháng đầu năm tài chính.

Thứ hai, tăng cường vai trò điều tiết và giám sát hợp đồng của Sở Y tế. Sở Y tế tỉnh Hải Dương cần định kỳ hàng quý rà soát tiến độ mua sắm của từng đơn vị, chủ động kích hoạt cơ chế điều chuyển số lượng thuốc giữa các cơ sở y tế trên địa bàn với hạn mức điều tiết tối đa 30% tổng số lượng phê duyệt theo quy định. Hoạt động này nhằm bảo đảm 100% cơ sở khám chữa bệnh đạt tỷ lệ thực hiện hợp đồng thầu từ 80% trở lên trước quý 4 hàng năm.

Thứ ba, tái cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện dựa trên phân tích ABC/VEN. Hội đồng Thuốc và Điều trị tại các bệnh viện phải rà soát, cắt giảm tối thiểu 15% tỷ trọng kinh phí của các thuốc hỗ trợ, vitamin và khoáng chất không thiết yếu thuộc nhóm A; tập trung nguồn vốn ưu tiên cho thuốc cấp cứu, thuốc chuyên khoa và thuốc sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cao trong chu kỳ đấu thầu 12 tháng tiếp theo.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và chế tài đối với nhà thầu. Sở Y tế phối hợp chặt chẽ với Bảo hiểm Xã hội tỉnh để tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về trần thanh toán bảo hiểm y tế định kỳ hàng tháng; đồng thời bổ sung điều khoản xử phạt nghiêm khắc đối với các nhà thầu vi phạm hợp đồng cung ứng, chậm giao hàng quá 15 ngày, nhằm duy trì tỷ lệ đáp ứng thuốc kịp thời đạt trên 98%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và Sở Y tế các tỉnh, thành phố. Đề tài cung cấp khung phân tích thực chứng về hoạt động đấu thầu tập trung quy mô hơn 700 tỷ đồng, giúp các nhà quản lý hoàn thiện chính sách mua sắm công, xây dựng thỏa thuận khung chặt chẽ và điều tiết danh mục thuốc hiệu quả giữa các tuyến y tế.

Thứ hai, lãnh đạo các bệnh viện và Hội đồng Thuốc và Điều trị. Nghiên cứu mang lại giải pháp ứng dụng phân tích ABC/VEN vào việc tái cấu trúc danh mục thuốc bệnh viện, kiểm soát bội chi quỹ bảo hiểm y tế và loại bỏ các mặt hàng thuốc hỗ trợ chiếm dụng ngân sách lớn.

Thứ ba, dược sĩ phụ trách công tác dược bệnh viện và quản lý cung ứng. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp dự trù số lượng thuốc chính xác, cách thức theo dõi tỷ lệ thực hiện hợp đồng thầu đạt ngưỡng 80% và kỹ năng xử lý các tình huống phát sinh liên quan đến thuốc thay thế tương đương.

Thứ tư, giảng viên, học viên sau đại học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị Dược. Luận văn cung cấp mô hình nghiên cứu kết hợp định lượng trên 1.295 khoản mục với phỏng vấn định tính chuyên sâu, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy, nghiên cứu kinh tế dược và chính sách y tế công cộng.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tập trung tại Hải Dương đạt bao nhiêu phần trăm? Tổng giá trị thực hiện đạt 614.401 triệu đồng trên 774.318 triệu đồng giá trị trúng thầu, đạt tỷ lệ 79,35%. Con số này suýt soát ngưỡng tối thiểu 80% theo quy định tại Thông tư 15/2019/TT-BYT, phản ánh nỗ lực cung ứng lớn nhưng vẫn còn khoảng cách 0,65% cần tối ưu.

Tại sao vẫn còn 158 khoản mục thuốc trúng thầu nhưng hoàn toàn không được cơ sở y tế sử dụng? Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc các cơ sở y tế dự trù chưa sát nhu cầu thực tế, sự thay đổi của mô hình bệnh tật sau đại dịch và tâm lý e ngại vượt dự toán chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Ngoài ra, nhiều mặt hàng có sẵn thuốc tương tự thay thế với mức giá rẻ hơn.

Việc thuốc không thiết yếu chiếm tỷ trọng cao trong nhóm A gây ra hệ lụy gì? Phân tích ABC/VEN chỉ ra nhiều thuốc vitamin, khoáng chất và thuốc dược liệu nằm trong nhóm A, tức nhóm chiếm 75% đến 80% ngân sách chi tiêu. Hệ lụy là nguồn lực tài chính bị phân tán cho các liệu pháp hỗ trợ thay vì tập trung mua sắm các thuốc điều trị đặc hiệu và thuốc sống còn cho người bệnh.

Thuốc sản xuất trong nước chiếm vị thế như thế nào trong kết quả thực hiện thầu? Dù chính sách khuyến khích dùng thuốc nội, thuốc Nhóm 4 gói generic sản xuất trong nước chỉ đạt 71,42% giá trị trúng thầu, thấp hơn mức trung bình 79,35%. Nguyên nhân do các cơ sở y tế vẫn ưu tiên chỉ định thuốc nhập khẩu Nhóm 1 đạt tỷ lệ tới 87,08% hoặc do nhà thầu trong nước gián đoạn cung ứng nguyên liệu.

Sở Y tế có giải pháp nào để xử lý các khoản mục thuốc thực hiện dưới 80%? Sở Y tế triển khai cơ chế điều tiết khối lượng thuốc linh hoạt giữa các cơ sở y tế trên địa bàn với hạn mức điều chuyển không quá 30% tổng số lượng phê duyệt. Đồng thời, các đơn vị phải gửi văn bản giải trình lý do khách quan và phối hợp với Bảo hiểm Xã hội để tháo gỡ rào cản thanh toán.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện kết quả thực hiện đấu thầu thuốc tập trung quy mô 774,32 tỷ đồng tại Hải Dương với tỷ lệ giá trị thực hiện đạt 79,35% và tỷ lệ khoản mục đạt 87,80%.
  • Nhận diện 158 khoản mục thuốc hoàn toàn không được sử dụng và chỉ rõ sự chênh lệch lớn giữa thuốc nhập khẩu Nhóm 1 đạt 87,08% so với thuốc sản xuất trong nước Nhóm 4 chỉ đạt 71,42%.
  • Vạch rõ bất cập trong cơ cấu phân bổ chi phí ABC/VEN khi các mặt hàng thuốc không thiết yếu vẫn chiếm tỷ trọng ngân sách lớn tại 21 cơ sở y tế công lập.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ gồm chuẩn hóa công tác dự trù dữ liệu, điều tiết liên viện tối đa 30% và thắt chặt chế tài cung ứng của nhà thầu trong chu kỳ 12 tháng tới.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của công trình trong việc cung cấp luận cứ khoa học vững chắc nhằm hoàn thiện chính sách đấu thầu dược phẩm công lập trên toàn quốc.

Các nhà quản lý y tế, lãnh đạo bệnh viện và chuyên viên phụ trách cung ứng dược cần tham khảo ngay toàn văn nghiên cứu để áp dụng các mô hình dự trù khoa học và giải pháp điều tiết thuốc tối ưu cho đơn vị mình.