ĐẶT VẤN ĐỀ Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL), chất lượng dịch vụ công tại các ĐVSNCL đã không ngừng được mở rộng và nâng cao; tạo điều kiện để người dân có nhiều cơ hội lựa chọn, tiếp cận các hoạt động dịch vụ, góp phần cải thiện từng bước thu nhập của người lao động. Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cụ thể về cơ chế tự chủ của ĐVSNCL đã tạo điều kiện, khuyến khích các ĐVSNCL thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính [24]. Hiện nay, nguồn tài chính của các bệnh viện công lập được xác định bao gồm ngân sách nhà nước (NSNN), nguồn thu từ quỹ BHYT, viện phí và các nguồn thu khác (như thu dịch vụ theo yêu cầu, hoạt động nhà thuốc, căn tin,. Trong đó, nguồn NSNN đang có xu hướng ngày càng giảm theo sự gia tăng mức độ tự chủ, gây ra nhiều thách thức cho các bệnh viện trong việc tự cân đối thu – chi nhằm phát triển bệnh viện.
Nguồn thu chủ yếu của bệnh viện là từ nguồn chi trả của BHYT và từ viện phí đóng trực tiếp của người bệnh sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh. Đối với các bệnh viện chuyên khoa ung bướu, sự gia tăng về chi phí điều trị do gánh nặng bệnh tật ngày càng tăng của các bệnh ung thư cũng như sự phát triển nhanh chóng của các thuốc và công nghệ y tế đắt tiền. Trong điều kiện đó, yêu cầu đặt ra cho các bệnh viện là cần quản lý và sử dụng các nguồn tài chính hiệu quả, cần giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa thất thoát do các tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn tài chính có hiệu quả cao nhất. Từ năm 2006 đến năm 2016, Bệnh viện Ung Bướu TPHCM là đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động theo Nghị định 43/2006-NĐ- CP.
Đến năm 2017, Bệnh viện Ung Bướu TPHCM đã tự chủ hoàn toàn về tài chính, là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Trong quý 4 năm 2020, Bệnh viện đưa vào hoạt động Cơ sở 2 tại Quận 9 với quy mô 1.000 giường bệnh và trở thành trung tâm điều trị ung thư 2 lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Để có đủ chi phí cho hai cơ sở hoạt động và đảm bảo đời sống cho đội ngũ nhân viên y tế thì công tác quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng, việc quản lý tài chính có hiệu quả sẽ góp phần đem đến sự thành công cho bệnh viện. Vì vậy, việc phân tích kết quả hoạt động tài chính của bệnh viện, tìm ra các yếu tố tác động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của Bệnh viện là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu.
Đề tài nghiên cứu “Kết quả hoạt động tài chính và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2018” được tiến hành nhằm phân tích KQHĐTC của bệnh trong giai đoạn 5 năm gần nhất (từ năm 2014 đến năm 2018) kể từ khi bệnh viện tiến hành thực hiện tự chủ một phần đến tự chủ hoàn toàn về tài chính. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kết quả hoạt động tài chính tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM giai đoạn 2014 – 2018. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tài chính tại Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2018.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về tài chính, vai trò và chức năng của tài chính y tế 1. Khái niệm về tài chính, tài chính y tế và quản lý tài chính Theo Bách khoa Toàn thư Việt nam, Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định Theo WHO, tài chính y tế là một chức năng của hệ thống y tế, thực hiện việc huy động, tập hợp và phân bổ nguồn kinh phí cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, cho cá nhân và cộng đồng [48].
Tài chính y tế là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia hoạt động trong lĩnh vực y tế. Bao gồm việc huy động các nguồn kinh phí cho hoạt động y tế, phân bổ và sử dụng các nguồn này trong HTYT. Các nguồn lực tài chính sử dụng cho hoạt động cung cấp DVYT gọi là nguồn tài chính y tế. Ngành y tế có 3 nguồn cung cấp tài chính cơ bản: nguồn công cộng, nguồn tư nhân và nguồn khác [18].
Hoạt động của tài chính y tế gồm 4 bộ phận chính: (1) người cung cấp dịch vụ, (2) người sử dụng dịch vụ, (3) người thanh toán trung gian và (4) chính phủ giữ vai trò hạt nhân của hệ thống. Cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính y tế do nhà nước đề ra và đồng thời do chính nhà nước triển khai thực hiện thông qua hệ thống y tế [18]. Quản lý tài chính (QLTC) là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. QLTC được coi là hợp lý, hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định [44].
Quản lý tài chính trong bối cảnh các cơ sở y tế là “Tìm đủ nguồn lực để hoạt động và sử dụng nguồn lực đó một cách tiết kiệm và tối ưu nhất” [48]. Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâu công việc: Thứ nhất, lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm; Thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước; Thứ ba, quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước [44] 5 Từ năm 2006, các bệnh viện công thực hiện các hoạt động quản lý tài chính theo Nghị định 43. Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, bệnh viện được phân thành 3 loại [21]: (1) Bệnh viện tự đảm bảo chi phí hoạt động; (2) Bệnh viện tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động; (3) Bệnh viện do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động. Theo phân loại bệnh viện của Nghị định 43, Bệnh viện Ung Bướu TPHCM là bệnh viện tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động.
Năm 2015, Nghị định 16/2015/NĐ-CP được ban hành, tuy nhiên nghị định quy định cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế đang được Bộ Y tế trình Chính phủ phê duyệt (thay thế nghị định 85/2012/NĐ-CP). Do đó trong năm 2018 việc phân loại đơn vị và giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp y tế dựa trên vẫn theo Nghị định số 43 và Thông tư số 71/2006/TT-BTC kết hợp với Nghị định 16/2015/NĐ-CP cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL trong lĩnh vực y tế và có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Nghị định mới. Năm 2018, Bệnh viện Ung Bướu TPHCM được giao quyền tự chủ là đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên. Vai trò và chức năng của tài chính y tế ● Vai trò của tài chính y tế: - Tài chính y tế là một trong 6 thành phần của hệ thống y tế.
- Có tác động đến hầu hết các mục tiêu của hệ thống y tế: Độ bao phủ, chất lượng, bảo vệ tài chính, kiểm soát chi phí y tế. ● Chức năng của tài chính y tế: - Tăng cường khả năng xác định và đánh giá các lựa chọn, giải pháp của ngành y tế và tăng cường tính minh bạch và có cơ sở khi ra các quyết định trong y tế, như lựa chọn các chính sách TCYT (viện phí, chế độ miễn giảm, phát triển đa dạng hoá các loại hình BHYT, công tư phối hợp). - Phân tích chính sách TCYT liên quan đến thực hiện mục tiêu bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tài chính y tế (TCYT) cũng như Tài chính bệnh viện (TCBV) có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của bệnh viện.
Vai trò này được quy định bởi các chức năng của tài chính. ¨ Đó là chức năng huy động các nguồn TCYT một cách thích 6 hợp; ¨ Quản lý và phân bổ nguồn tài chính. Ngoài hai chức năng trên, TCBV còn hai chức năng rất quan trọng, đó là chức năng: ¨ Khuyến khích nâng cao chất lượng DVYT và phát triển kỹ thuật y tế; ¨ Bảo vệ người dân trước các rủi ro do các chi phí y tế quá lớn để họ không bị nghèo hóa. Đây là hai chức năng khác biệt của TCBV so với tài chính doanh nghiệp và TCBV tư hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Chức năng này yêu cầu các bệnh viện trong hoạt động thu sự nghiệp phải tăng thu một cách hợp lý, đồng thời phấn đấu tiết kiệm chi để giảm chi phí điều trị [44]. Các chính sách liên quan đến hoạt động tài chính bệnh viện Các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của các bệnh viện công lập là chuẩn mực pháp lý hoạt động tài chính ở các bệnh viện. Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước thực hiện theo hướng tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ tài chính cho các bệnh viện công lập thì đó sẽ là động lực nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý tài chính của mỗi bệnh viện là động lực phát triển sự nghiệp bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và công tác khám chữa bệnh nói riêng trong thời kỳ đổi mới hiện nay.