CHƯƠNG 1.Các khái niệm cơ bản 1.Phân tích hoạt động kinh doanh Theo Phạm Văn Dược- Trân Phước (2010) : Về phân tích hoạt động kinh doanh: Phân tích kính tế trong phạm vi doanh nghiệp được gọi là phân tích hoạt động kinh doanh hoặc nói tắt là phân tích kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh mang nhiều tính chất khác nhau và phụ thuộc vào đối tượng cũng như các giải pháp quản lý mà ta áp dụng. Có nhiều loại hình phân tích kinh tế nhưng chúng đều có một cơ sở chung và phụ thuộc vào đối tượng phân tích. Các phương pháp phân tích kinh tế quốc dân, phân tích lãnh thô.
được nghiên cứu ở các môn học khác, phân tích kinh tế của doanh nghiệp, được gọi là môn khoa học riêng và được giảng dạy trong các trường đại học, thường được gọi là phân tích hoạt động kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh ( PTHĐKD ) là quá trình nghiên cứu để phân tích toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp ( DN )„ nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cở sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp. Trước đây, trong quá trình sản xuất kinh doanh đơn giản với quy mô nhỏ, yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích cũng được tiến hành giản đơn, có thê thấy ngay trong công tác hoạch toán. Khi sản xuất kinh doanh căng phát triển, thì nhu cầu đòi hỏi thông tin cho nhà quản trị càng nhiều, đa dạng và phức tạp.
Phân tích hoạt động kinh doanh hình thành và phát triển như một môn khoa học độc lập đề đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị. Người ta phân biệt phân tích, như là một hoạt động thực tiễn, vì phân tích hoạt động kinh doanh luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho việc ra quyết định kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh là một ngành khoa học, nghiên cứu các phương pháp phân tích có hệ thống, và tìm ra những giải pháp áp dụng các phương pháp đó ở mỗi doanh nghiệp. Như vậy phân tích hoạt động kinh doanh là quá trinh nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thê và với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn.Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là các bảng báo cáo có trong Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp.
Theo Trần Mạnh Dũng- Phạm Đức Cường- Đỉnh Thế Hùng(2017) thì các bảng đó được định nghĩa như sau: Bảng cân đối kế toán Là báo cáo phản ánh tông quát tình hình và tài sản nguồn vốn của doanh nghiệp. Bảng này được lập dựa trên cơ sở tính cân bằng về mặt lượng giữa giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp và được lập vào một thời điểm nhất định. Do đó, bảng cân đối kế toán có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng có quan hệ sỡ hữu, quan hệ kinh tế - tài chính — pháp lý trong quá trình HĐKD của doanh nghiệp. Căn cứ vào bảng cân đối kế toan, các cơ quan Nhà nước, các cô đông.năm được năng lực và thực trạng tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được xu hướng phát triên, tình hình và khả năng thanh toán, quy mô HĐKD cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, thực hiện được nhiệm vụ và chức năng quản lý của Nhà nước, đề ra các quyết định kinh doanh. Đồng thời, thông tin do bảng cân đối kế toán cung cấp còn là căn cứ pháp lý để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, cho thuê, nhượng bán, giải thể, pha sản,. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Là báo cáo phản ánh doanh thu, thu nhập, chí phí và kết quả HDKD. Sau một giai đoạn nhất định ( Quý, năm ) toàn bộ những thông tin tổng quát về chỉ phí bỏ ra và kết quả thu được sẽ được phản ánh trên Báo cáo kết quả HĐKD.
Thông qua báo cáo này, người sử dụng thông tin có thể đanh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời cũng biết được quy mô chỉ phí, doanh thu, thu nhập và kết quả từ các HĐKD cũng như số lợi nhuận thuần trước và sau thuê thu nhập doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyền tiền tệ Là báo cáo phản ánh tình hình biến động tài chính, lưu chuyền tiền tệ trong doanh nghiệp. Thông tin về lưu chuyên tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở đề đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra trong hoạt động sản xuất — kinh doanh của doanh nghiệp.
Thuyết minh báo cáo tài chính Báo cáo này nhằm giải thích, bố sung thêm một số chỉ tiêu mà các BCTC khác chưa phản ánh hoặc phản ánh chưa rõ nét, ví dụ: các nguyên nhân tăng, giảm của tải sản có định; tình hình tăng, giảm các nguồn vốn, các quỹ doanh nghiệp, những khoản nợ tiềm tàng. Ngoài thông tin trên các BCTC, người sử dụng BCTC còn có thê thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác để sử dụng trong việc phân tích như: thông tin về tình hình kinh tế, thông tin theo nhanh, thông tin về đặc điểm HĐKD của doanh nghiệp hay thông tin trên các báo cáo khác.Vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh Theo Phạm Văn Dược-Trần Phước (2010) thì phân tích hoạt động kinh doanh có những vai trò sau: Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiểm năng trong hoạt động kinh doanh, mà còn là công cụ cải tiến quy chế quản lý trong kinh doanh. Bắt kì hoạt động kinh doanh trong các điều kiện hoạt động khác nhau như thế nào đi nữa, cũng còn những tiềm ân, khả năng tiềm tàng chưa được phát hiện. Chỉ thông qua phân tích doanh nghiệp mới có thể phát hiện được và khai thác chúng dé mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Thông qua phân tích, doanh nghiệp mới thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc các vấn đề phát sinh và có giải phap cu thé dé cai tiến quan ly. Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp. Chính trên cơ sở này các doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh có hiệu quả. Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở guan trọng đê ra các quyết định kinh doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro. Để kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải biết phương thức tiễn hành phân tích hoạt động kinh doanh trong thời gian tới, để vạch ra chiến lược kinh doanh phù hợp. Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp về tài chính, lao động vật tư.
doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động ở bên ngoài như thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở phân tích trên, doanh nghiệp dự tính các rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra.Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh 1.Doanh thu Theo Lưu Thị Hương (2010) Doanh thu là toàn bộ số tiền được và sẽ được thu do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp. Gồm có: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu thuần, doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền thu được và sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm hàng hóa; cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm bên ngoài giá bán ( nếu có ).
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền thu được và sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm hàng hóa; cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm bên ngoài giá bán ( nếu có ). Được xác định theo công thức: G= qipi Trong đó: qi: khối lượng sản phâm hàng hóa, dịch vụ loại ¡ mà doanh nghiệp cung cấp trong kì pi: gia ban don bi san pham hang hoa loai i, i= 1,.n 10 Doanh thu thuần: phản ánh doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ khi đã trừ các khoản giảm trừ bao gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng hóa bị trả lại hay thuế tiêu thụ đặc biệt. Doanh thu từ hoạt động tài chính: là các khoản thu nhập có được từ hoạt động tài chính doanh nghiệp như góp vốn liên doanh.Lãi tiền gửi/ cho vay, thu nhập từ mua bán chứng khoán, chuyển nhượng tài sản, chênh lệch khi mua bán ngoại tệ. Thu nhập khác: là các khoản thụ nhập từ các hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh chính và hoạt động tài chính của doanh nghiệp như: thu về nhượng bán, thanh lý tài sản có định; thu tiền phạt vi phạm hợp đồng: thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa số: thu tiền bảo hiểm bồi thường.Chi phi Theo Nguyễn Ngọc Huyễn (2013) , Trong qua trinh san xuat kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho người lao động.
Hao phí đó người ta gọi là chỉ phí sản xuất kinh doanh. Giá vốn hàng bán: là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chí phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phâm nhất định. Chi phí hoạt động tài chính: phản ánh các chỉ phí từ hoạt động tài chính bao gồm các khoản chỉ phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính, chi phí đi vay và đi vay vốn, chỉ phí góp vốn liên doanh, liên kết,. Chi phí bán hàng: phản ánh các chỉ phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ như: chỉ phí nhân viên bán hàng, chỉ phí vật liệu bao bi, chi phi vat liệu mua ngoài, chỉ phí bảo hành, chí phí khấu hao tài sản cố định.