ĐẶT VẤN ĐỀ Đánh giá mô hình kê đơn thuốc là một khía cạnh quan trọng của chăm sóc bệnh nhân, cũng là thước đo chất lượng dịch vụ chăm sóc được cung cấp. Sử dụng thuốc hợp lý là việc dùng thuốc đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của người bệnh ở liều thịch hợp trên từng cá thể người bệnh ( dùng đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng. Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh. Sử dụng thuốc cho người bệnh là hoạt động xuyên suốt trong toàn bộ quá trình hoạt động của bệnh viện.
Cung ứng thuốc trong bệnh viện cần đảm bảo được nhu cầu khám và điều trị bệnh ngoại trú, đáp ứng chất lượng với giá cả hợp lý. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc kém hiệu quả và bất hợp lý đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Trong đó phải kể đến việc kê đơn không đúng quy chế: kê quá nhiều thuốc trong 1 đơn, kê đơn nhiều biệt dược, kê đơn thuốc không phải là thuốc thiết yếu mà là thuốc thuốc có tính thương mại cao. Đây là một trong các nguyên nhân chính là cho việc điều trị không hiệu quả và không an toàn, làm bệnh không khỏi hoặc kéo dài, làm bệnh nhân lo lắng, chưa kể đến chi phí điều trị cao.
Theo một số nghiên cứu, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30- 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước, phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả. Những năm gần đây Trung tâm y tế Na Rì có các hoạt động nhằm quản lý việc kê đơn thuốc ngoại trú đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, hợp lý. Để góp phần nâng cao hiệu quả hơn nữa trong việc khám chữa bệnh cho bệnh nhân ngoại trú chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích thực trạng kê đơn thuốc cho bênh nhân điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Na Rì, tỉnh Bắc Kạn năm 2020” với hai mục tiêu sau: 1 1. Đánh giá thực trạng việc tuân thủ các quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Na Rì, tỉnh Bắc Kạn năm 2020.
Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Na Rì, tỉnh Bắc Kạn năm 2020. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Đơn thuốc và quy định kê đơn điều trị ngoại trú. Khái niệm đơn thuốc - Là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh.
- Là căn cứ hợp pháp để bán thuốc, cấp phát thuốc, pha chế thuốc theo đơn và sử dụng thuốc. Quy định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Ngày 29/12/2017 Bộ trưởng BYT đã ra Thông tư 52/2017/TT-BYT quy định về đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú và Thông tư 18/2018/TT-BYT ngày 22/8/2018 sửa đổi, bổ sung thông tư 52/2017/TT- BYT [3],[7]. - Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh. - Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh.
Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và Điều trị của Bộ Y tế hoặc đủ sử dụng tối đa 30 (ba mươi) ngày, trừ trường hợp quy định tại các Điều 7, 8 và 9 Thông tư này. - Y sỹ không được kê đơn thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa hoạt chất gây nghiện, thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa hoạt chất hướng tâm thần và thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa tiền chất không thuộc danh mục thuốc không kê đơn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. - Không được kê vào đơn thuốc: + Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; + Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam; + Thực phẩm chức năng; 3 + Mỹ phẩm.Yêu cầu về hình thức kê đơn thuốc - Người kê đơn thuốc thực hiện kê đơn vào đơn thuốc hoặc sổ khám bệnh theo mẫu quy định và ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, số ngày sử dụng vào sổ khám bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. - Người kê đơn thuốc ra chỉ định điều trị bằng thuốc vào bệnh án điều trị ngoại trú của người bệnh đồng thời kê đơn (sao chỉ định điều trị) vào sổ khám bệnh của người bệnh theo mẫu quy định hoặc sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh.
- Kê đơn thuốc đối với người bệnh tiếp tục phải điều trị ngoại trú ngay sau khi kết thúc việc điều trị nội trú: + Trường hợp người kê đơn thuốc tiên lượng người bệnh chỉ cần tiếp tục sử dụng thuốc từ 01 (một) đến 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc (chỉ định điều trị) tiếp vào bệnh án điều trị nội trú đồng thời kê đơn (sao chỉ định điều trị) vào sổ khám bệnh hoặc sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh. + Trường hợp người kê đơn thuốc tiên lượng người bệnh cần tiếp tục điều trị trên 07 (bảy) ngày thì phải chuyển sang điều trị ngoại trú (làm bệnh án điều trị ngoại trú) ngay sau ngày kết thúc điều trị nội trú, việc kê đơn thuốc thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc chuyển tuyến về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để tiếp tục điều trị. - Kê đơn thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất theo quy định Yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc: Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong Đơn thuốc hoặc trong sổ 4 khám bệnh của người bệnh. Ghi địa chỉ nơi người bệnh thường trú hoặc tạm trú: số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn/ấp/bản, xã/phường/thị trấn, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh, tỉnh/thành phố.
Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi ghi số tháng tuổi, cân nặng, tên bố hoặc mẹ của trẻ hoặc người đưa trẻ đến khám bệnh, chữa bệnh. Kê đơn thuốc theo quy định như sau: Thuốc có một hoạt chất - Theo tên chung quốc tế (INN, generic); Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol 500mg. - Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại). Ví dụ: Thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg, tên thương mại là A thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol (A) 500mg.
Thuốc có nhiều hoạt chất hoặc sinh phẩm y tế thì ghi theo tên thương mại. Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng/thể tích, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc. Nếu đơn thuốc có thuốc độc phải ghi thuốc độc trước khi ghi các thuốc khác. Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa.
Số lượng thuốc chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10) thì viết số 0 phía trước. Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sữa. Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía 5 trên chữ ký của người kê đơn theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải; ký tên, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn. Kê đơn thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có ứng dụng công nghệ thông tin trong kê đơn thuốc Đơn thuốc được kê trên máy tính 01 lần và lưu trên phần mềm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Đối với đơn thuốc “N” và đơn thuốc “H” cần phải in ra cho người bệnh và lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm việc lưu đơn thuốc để trích xuất dữ liệu khi cần thiết. Thời hạn đơn thuốc có giá trị mua, lĩnh thuốc Đơn thuốc có giá trị mua, lĩnh thuốc trong thời hạn tối đa 05 ngày, kể từ ngày kê đơn thuốc. Đơn thuốc được mua tại các cơ sở bán lẻ thuốc hợp pháp trên toàn quốc.
Thời gian mua hoặc lĩnh thuốc của đơn thuốc gây nghiện phù hợp với ngày của đợt điều trị ghi trong đơn. Mua hoặc lĩnh thuốc gây nghiện đợt 2 hoặc đợt 3 cho người bệnh ung thư và người bệnh AIDS trước 01 (một) đến 03 (ba) ngày của mỗi đợt điều trị (nếu vào ngày nghỉ Lễ, Tết, thứ bảy, chủ nhật thì mua hoặc lĩnh vào ngày liền kề trước hoặc sau ngày nghỉ). Các tiêu chí đánh giá kê đơn thuốc. Tổ chức Y tế thế giới – WHO 1993 đã đưa ra các chỉ số kê đơn sau: 6 Bảng 1.
Các chỉ số kê đơn của WHO Chỉ số Ý nghĩa Để đo lường mức độ tổng thể của việc sử dụng Tỷ lệ phần trăm đơn kê có loại thuốc quan trọng, nhưng thường bị lạm kháng sinh dụng và tốn kém trong chi phí điều trị bằng thuốc. Để đo lường mức độ tổng thể của việc sử dụng loại thuốc quan trọng, nhưng thường bị lạm Tỷ lệ phần trăm đơn kê có dụng và tốn kém trong chi phí điều trị bằng TPCN thuốc. Số thuốc trung bình Để đo mức độ đơn kê nhiều thuốc. trong một đơn Tỷ lệ phần trăm của các Để đo lường xu hướng kê đơn theo tên generic thuốc được kê theo tên generic Tỷ lệ phần trăm của các Để đo mức độ thực hành phù hợp với chính thuốc được kê thuộc danh sách thuốc quốc gia, bằng việc chỉ ra việc thực mục thuốc thiết yếu hoặc hiện kê đơn từ danh sách thuốc chủ yếu đối với danh mục từng loại hình cơ sở khảo sát.
thuốc chủ yếu 7 Ngoài ra theo thông tư 21/2013/ TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện cũng đưa ra các chỉ số sử dụng thuốc WHO/INRUD cho các cơ sở y tế ban đầu, bao gồm [6]: - Số thuốc kê trung bình trong một đơn - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê tên generic - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban hành Một số chỉ số sử dụng thuốc toàn diện: - Chi phí thuốc trung bình của mỗi đơn - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh - Tỷ lệ phần trăm chi phí cho thuốc tiêm - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho Vitamin - Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị - Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe 1. Thực trạng kê đơn thuốc tại Việt Nam.