Chương 1: TỔNG QUAN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về thực phẩm chức năng * Bộ y tế Nhật Bản: Thực phẩm chức năng là loại thực phẩm có chứa thành phần tốt cho sức khỏe và chính thức được thừa nhận là có tác động sinh lý trên cơ thể con người [23]. * Viện hàn lâm khoa học Mỹ: Thực phẩm chức năng là những thực phẩm mà nồng độ các thành phần cấu thành đã được tập trung biến đổi cho ra những lợi ích có từ bản chất tự nhiên của thực phẩm [23].
* Liên minh Châu Âu (EU) Thực phẩm chức năng là một thực phẩm có ảnh hưởng tốt đến một hoặc nhiều chức năng trong cơ thể vượt qua giá trị dinh dưỡng cơ bản giúp cải thiện sức khỏe và giảm nguy cơ mắc bệnh. Nó không phải là một viên thuốc, viên nang hoặc bất kỳ hình thức bổ sung chế độ ăn uống nào [23]. * Hiệp hội TPCN - Bộ y tế Việt Nam Thực phẩm chức năng là sản phẩm hỗ trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại bệnh tật. Chính vì vậy, TPCN còn được gọi là thực phẩm - thuốc [9], [23].
Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu hạch toán và các thông tin kinh tế khác, bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế nhằm làm rõ bản chất của hoạt động kinh doanh, nguồn tiềm năng cần được khai thác, từ đó đề ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh ở doanh nghiệp [6], [7]. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng để phát hiện khả năng tiềm tàng và công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong hoạt động kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở để đề ra các quyết định đúng đắn trong chức năng kiểm tra đánh giá và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và ngăn chặn những rủi ro.
Để đạt được những kết quả mong muốn trong kinh doanh và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty mình đồng thời đưa ra những hoạch định mới phù hợp với chiến lược trong thời gian tới. Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không những chỉ cần thiết cho các nhà quản trị bên trong mỗi doanh nghiệp mà còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khi họ có các mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thể quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay với doanh nghiệp [6], [7]. Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh Đánh giá mức độ thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và hiệu quả hoạt động kinh doanh đã đạt được. Xác định những nhân tố và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó đến quá trình và kết quả kinh tế.
Đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế và loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố tiêu cực, phát huy ảnh hưởng của các nhân tố tích cực, từ đó phát huy được khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp [6]. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế. Phân tích nhằm nghiên cứu quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các kết quả do quá trình hoạt động kinh doanh mang lại, có thể là kết quả của quá khứ hoặc các kết quả dự kiến có thể đạt được trong tương lai và 4 là kết quả tổng hợp từ nhiều quá trình hoạt động.
Các kết quả này được biểu hiện dưới dạng các chỉ tiêu kinh tế. Các chỉ tiêu kinh tế có thể là chỉ tiêu đạt được trong thực tế hoặc là các chỉ tiêu mang tính định hướng từ các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh còn đi sâu xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới tác động đến sự biến động của chỉ tiêu. Nhân tố là các yếu tố cấu thành nên chỉ tiêu kinh tế.
Vì vậy, các nhân tố tác động đến các chỉ tiêu kinh tế cũng là đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh [7]. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Chỉ tiêu doanh thu Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được từ hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng hàng hóa hay dịch vụ.
Doanh thu gồm các loại sau: Bảng 1. Một số khái niệm về doanh thu Doanh thu bán hàng và cung Là tổng số tiền mà doanh nghiệp thu được hoặc cấp dịch vụ sẽ thu được từ các hoạt động kinh tế phát sinh như: bán hàng, sản phẩm, cung cấp dịch vụ Doanh thu thuần về bán Là khoản doanh thu sau khi đã trừ đi các khoản hàng và cung cấp dịch vụ giảm trừ như: các khoản giảm giá bán hàng, chiết khấu, hàng bán bị trả lại, các khoản thuế Doanh thu từ hoạt động tài Là doanh thu từ các khoản tiền lãi, tiền bản chính quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác trong kỳ của doanh nghiệp Ý nghĩa của doanh thu: doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị ở một thời điểm cần phân tích. Thông qua nó ta có thể đánh giá được hiện trạng của doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không [4]. Phân tích chi phí Chi phí là tất cả hao phí lao động sống, lao động vật hóa được biểu hiện bằng tiền và phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tính trong quá trình kinh doanh.
Các loại chi phí trong kinh doanh hàng hóa: Bảng 1. Một số khái niệm về chi phí Giá vốn hàng Là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để bán hoàn thành việc mua sản phẩm về tới kho hàng của công ty. Chi phí bán hàngLà những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm (chi phí lưu từ kho của công ty đến tay người tiêu dùng bao gồm: tiền thông hàng hóa) lương, khấu hao tài sản cố định, bao bì, đóng gói, bảo quản hàng hóa, hoa hồng bán hàng, tiếp thị, quảng cáo… Chi phí quản lý Là những chi phí liên quan đến việc tổ chức, quản lý, điều doanh nghiệp hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Bảng 1.
Một số khái niệm về lợi nhuận Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi nhuận được coi là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cũng Lợi nhuận chính là cơ sở, là nền tảng để đánh giá hiệu qủa kinh tế từ hoạt động của các doanh nghiệp. Lợi nhuận thường được xem xét và đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: Là chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh và chi phí của hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận Lợi nhuận từ hoạt từ hoạt động kinh doanh thường được xem xét thông động kinh doanh qua 2 chỉ tiêu: Lợi nhuận gộp và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh. Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ. Chỉ tiêu này Lợi nhuận gộp được tính bằng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu và giá vốn hàng bán Lợi nhuận thuần từ Là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thuần của hoạt động kinh doanh doanh nghiệp (Doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm chức 6 năng, thuốc, mỹ phẩm, vật tư y tế…). Chỉ tiêu này được tính toán dựa trên cơ sở lợi nhuận gộp từ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng hóa và cung cấp dịch vụ đã cung cấp trong kỳ báo cáo, cộng doanh thu hoạt động tài chính và trừ đi chi phí hoạt động tài chính.
Là những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không dự Lợi nhuận khác tính trước hoặc là có dự tính trước nhưng ít xảy ra trong kỳ kế toán Tổng lợi nhuận kế Bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và toán trước thuế lợi nhuận khác chưa trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp Là phần lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp sau khi Lợi nhuận kế toán lấy tổng doanh thu trừ đi tất cả các loại chi phí và thuế sau thuế (lãi ròng) thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, để xem xét mức độ lợi nhuận đạt được với các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra có hiệu quả hay không chúng ta cần phân tích và đánh giá thông qua các chỉ số sau đây: Bảng 1. Một số khái niệm về tỷ suất lợi nhuận Chỉ tiêu này cho biết với một đồng doanh thu Tỷ suất lợi nhuận trên thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra doanh thu thuần (ROS) bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất này càng lớn thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao. Chỉ tiêu này phản ánh đo lường khả năng sinh lợi Tỷ suất lợi nhuận trên tài trên tài sản của doanh nghiệp, cứ một đồng vốn sản (ROA) đầu tư chi ra từ tài sản thì doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì kinh doanh càng có hiệu quả trên số vốn mà doanh nghiệp bỏ ra. Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lợi từ nguồn Tỷ suất lợi nhuận trên vốn bỏ ra đầu tư vào doanh nghiệp, cứ một đồng vốn chủ sở hữu (ROE) vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán sau thuế (lãi ròng).
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả trên số vốn đã bỏ ra.