ĐẶT VẤN ĐỀ Tình hình biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng nghiêm trọng như diễn biến thời tiết thất thường và xâm nhập mặn (Wassmann et al., 2004; Carew-Reid, 2008; Nhan et al., 2011) cùng với sự bất ổn định về thị trường, giá bán thấp trong khi giá vật tư tăng cao làm cho việc thay đổi mô hình sản xuất để thích ứng diễn ra như là một hiện tượng tất yếu (Clayton, 2003; Nguyễn Thanh Bình và cộng sự, 2009). Chuyển đổi mô hình sản xuất phù hợp là một trong những giải pháp để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này tiềm ẩn nhiều rủi ro (yếu tố tự nhiên, sinh kế và môi trường chính sách) và cần nhiều nghiên cứu để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất đồng thời hạn chế rủi ro cho những nông hộ khu vực này. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực trọng điểm của quốc gia về sản xuất nông nghiệp và thủy sản, chỉ chiếm khoảng 12% diện tích nhưng lại đóng góp hơn 50% tổng sản lượng lúa và 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước và hơn 70% trữ lượng thủy sản (GSO, 2013).
Tuy nhiên, theo nhiều đánh giá cho thấy đời sống của người dân sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng ven biển (Nguyễn Thanh Bình, 2011; Can, 2011). Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ĐBSCL được cho là một trong ba đồng bằng trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất (Quyết định 2139/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu) nên cần có những chiến lược cũng như những mô hình phù hợp trong thời gian tới. Trong thời gian gần đây nhiều nông dân ở khu vực ven biển ĐBSCL đã thực hiện chuyển đổi mô hình sản xuất với mục tiêu là nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp, cụ thể là chuyển đổi sang mô hình nuôi tôm thâm canh, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng. Theo kết quả báo cáo “Quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030” của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản năm 2015 và Báo cáo hội nghị triển khai kế hoạch ngành hàng tôm năm 2019 của Bộ NN&PTNT diễn ra tại Sóc Trăng, tổng diện tích nuôi tôm nước lợ toàn vùng ĐBSCL năm 2018 đạt 679.152 ha với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm trong giai đoạn từ 2005-2018.
Mặc dù tôm TCT chỉ 1 mới đưa vào sản xuất từ năm 2008 nhưng với các ưu điểm như thời gian nuôi ngắn (3 tháng so với 6 tháng nuôi tôm Sú), năng suất cao (từ 5 –11 tấn/ha/vụ so với tôm Sú chỉ đạt 4 –6 tấn/ha/vụ), thích nghi nhanh với thay đổi môi trường, khí hậu và độ rộng muối, diện tích nuôi tôm TCT đã tăng hơn 17 lần trong giai đoạn 2008-2018, cụ thể là từ 4.477 ha năm 2008 tăng lên 78. Trong giai đoạn 2008 – 2018, các tỉnh có tốc độ tăng trưởng diện tích nuôi tôm TCT mạnh nhất là Sóc Trăng với tốc độ gia tăng trung bình lên đến 116,83%/năm; trong khi các tỉnh còn lại tăng trưởng khá như Long An (76,03%/năm), Trà Vinh (96,16%/năm), Bến Tre (78,97%/năm), Tiền Giang (44,81%/năm), Kiên Giang (36,24%/năm) và Bạc Liêu (13,47%/năm). Từ khi thực hiện Quyết định 899/QĐ-TTg, diện tích gieo trồng lúa giảm mạnh khoảng 194 ngàn ha từ 4.302 ngàn ha năm 2015 xuống còn 4.107 ngàn ha năm 2018; tương ứng tỷ trọng giá trị sản xuất lúa gạo trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của vùng giảm từ 27,7% năm 2015 xuống còn 26,4% năm 2018. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng khoảng 64,6 ngàn ha, từ 742,7 ngàn ha lên 807,3 ngàn ha; tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng từ 35,4% lên 42% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2019).
Tương tự, diện tích mía của các tỉnh ĐBSCL cũng giảm mạnh trong giai đoạn 2015- 2018, cụ thể từ 55 ngàn ha trong năm 2015 thì chỉ còn khoảng 36 ngàn ha trong năm 2018. Diện tích mía và lúa khu vực ven biển ĐBSCL giảm mạnh các năm gần đây do chuyển đổi sang mô hình nuôi tôm thâm canh, trong đó cụ thể ở huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng nhiều nông hộ chuyển đổi từ mía sang tôm với tốc độ giảm diện tích trung bình khoảng 3,6%/năm và nông dân ở các huyện An Biên, An Minh, U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang thực hiện chuyển đổi từ lúa-tôm sang tôm thâm canh. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi mô hình yêu cầu đầu tư cao và sự chuẩn bị tốt về kỹ thuật sản xuất cũng như thị trường, do vậy rủi ro xảy ra trong quá trình chuyển đổi là rất cao (Lê Anh Tuấn và cộng sự, 2014; World Bank, 2016). Những rủi ro trong quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp sang tôm thâm canh được thể hiện ở hai khía cạnh chính là kinh tế và môi trường: thứ nhất là người dân chưa có nhiều kinh nghiệm về kỹ thuật sản xuất của mô hình tôm mới chuyển đổi nên việc sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào, đặc biệt là những yếu tố gây ô nhiễm môi trường sẽ bị hạn chế; thứ hai do thiếu kinh nghiệm về công nghệ sản xuất và thông tin thị trường cùng với giả định sử dụng không hiệu quả tài nguyên dẫn đến đầu ra có thể thấp hơn so với tiềm 2 năng và giá bán đầu ra không ổn định (World Bank, 2016).
Theo đánh giá của World Bank (2016) thì nuôi tôm là một trong những mô hình có ảnh hưởng khá lớn đến môi trường nước và phát thải nhiều khí hiệu ứng nhà kính do sử dụng quá mức các đầu vào. Do vậy, việc đo lường hiệu quả kinh tế và môi trường bằng một cách tiếp cận khoa học cho mô hình tôm thâm canh vùng chuyển đổi ven biển là cần thiết. Về khía cạnh hiệu quả kinh tế, cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện bằng cách sử dụng hàm lợi nhuận hoặc hàm chi phí để đo lường hiệu quả. Trong đó, một số nghiên cứu điển hình sử dụng hàm lợi nhuận gồm Phạm Lê Thông và cộng sự (2011); Nguyễn Văn Tiển và Phạm Lê Thông (2014); Phạm Lê Thông và Nguyễn Thị Phượng (2015); Nguyễn Minh Hiếu (2014).
Các nghiên cứu sử dụng dạng hàm chi phí gồm Ferrier and Lovell (1990); Worthington (2000); Rosko (2001); Coelli, et al. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc phân tích hiệu quả kinh tế bằng hàm lợi nhuận biên và chi phí biên theo cách tiếp cận hai bước, chưa đi sâu phân tích nguyên nhân chuyển đổi mô hình cũng như việc chưa sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào theo hướng tối thiểu hóa chi phí bằng ước lượng một bước. Bên cạnh đó, các nghiên cứu sử dụng hàm Cobb-Douglas và phương pháp DEA nên không tách biệt được nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả và tác động nhiễu. Ngoài ra có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nông hộ chưa sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu vào nên việc xem xét giảm thiểu chi phí sản xuất là rất cần thiết (Dung & Dung, 1999; Kompas, 2004; Khai & Yabe, 2011; Hoang Linh, 2012; Kompas et al.
Từ những kết quả nghiên cứu trước, đề tài đi sâu phân tích hiệu quả kinh tế theo hướng tối thiểu hóa chi phí bằng ước lượng biên ngẫu nhiên theo hướng một bước (one – step) nhằm khắc phục các nhược điểm khi ước lượng hai bước (two – step). Về khía cạnh hiệu quả môi trường, Pittman (1983) được xem là người đầu tiên quan tâm về vấn đề môi trường khi ước lượng hiệu quả của hoạt động sản xuất. Tác giả xem xét khía cạnh môi trường là một đầu ra không mong đợi của hoạt động sản xuất và đã phát triển thêm từ thuật ngữ “Chỉ số sản xuất đa khía cạnh translog (translog multilateral productivity index)” của Caves et al. Färe et al.
(1989) đã đề xuất một thuật ngữ tạm dịch là “chỉ số hiệu quả sản xuất hy-péc-pôn cải tiến, xem xét đồng thời sự khác biệt về khả năng tăng đầu ra mong đợi tối đa, khả năng giảm đầu ra không mong đợi tối đa và cùng lúc giảm các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên, nghiên cứu này đề 3 xuất phương pháp đo lường bằng DEA nên không thể tách các tác động nhiễu ra khỏi việc đo lường hiệu quả sản xuất. Thêm vào đó, đo lường đầu ra không mong đợi là một công việc khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Từ những hạn chế trên, Reinhard et al.
(1999) đã xem xét vấn đề môi trường ở khía cạnh đầu vào của hoạt động sản xuất gồm (e., phân đạm, phân lân và nhiên liệu) để từ đó đo lường hiệu quả môi trường (EE). Do các đầu vào xấu hay đầu vào có ảnh hưởng đến môi trường như phân, thuốc trừ sâu, nhiên liệu,… có mối quan hệ mật thiết với đầu ra không mong đợi (ô nhiễm), nên tối thiểu hóa đầu ra không mong đợi có thể được thực hiện thông qua tối thiểu hóa các đầu vào có ảnh hưởng đến môi trường. Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào sử dụng cách tiếp cận này để thực hiện đo lường hiệu quả môi trường cho trường hợp nuôi tôm ở khu vực ĐBSCL. Từ những lý do trên, nghiên cứu đã tiến hành đo lường hiệu quả kinh tế theo hướng tối thiểu hóa chi phí và hiệu quả môi trường cho mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh vùng chuyển đổi ven biển bằng cách tiếp cận một bước.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Phân tích thực trạng chuyển đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mô hình sản xuất sang tôm thâm canh, hiệu quả kinh tế và môi trường cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hiệu quả này của mô hình nuôi tôm thâm canh được chuyển đổi vùng ven biển.
Từ đó, nghiên cứu đề xuất những giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho người dân nuôi tôm vùng ven biển.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung nêu trên, đề tài tập trung thực hiện các mục tiêu cụ thể sau: - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp sang tôm thâm canh vùng chuyển đổi ven biển ĐBSCL; - Phân tích hiệu quả kinh tế, môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh được chuyển đổi vùng ven biển ĐBSCL; - Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh được chuyển đổi vùng ven biển ĐBSCL.