CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp và phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 1. Doanh nghiệp Khái niệm: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Phân loại doanh nghiệp: Theo bản chất kinh tế của của chủ sở hữu chúng ta sẽ có 3 loại hình doanh nghiệp là: - Doanh nghiệp tư nhân.
- Doanh nghiệp hợp danh. - Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn. Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp. - Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. SVTH: Trương Thị Kim Anh 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trương Tấn Quân Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật doanh nghiệp 2014; c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 của Luật doanh nghiệp 2014. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. SVTH: Trương Thị Kim Anh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trương Tấn Quân Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh).
Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định. Căn cứ vào chế độ trách nhiệm - Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn. - Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn 1. Khái niệm phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một tiêu chí rất quan trọng, nó chính là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế học như Peter Samuelson, Adam Smith, Manfred Kuhn,… Mặc dù có sự thống nhất cho rằng phạm trù hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh song lại có nhiều các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Nhà kinh tế học người Mỹ, Peter Samuelson cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là SVTH: Trương Thị Kim Anh 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Trương Tấn Quân sự phân bố có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội, nó xem xét hiệu quả dưới góc độ nền kinh tế quốc dân. Trên phương diện này, việc phân bổ các nguồn lực kinh tế để có thể tận dụng triệt để mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả. Tuy nhiên, đây chính là mức hiệu quả cao nhất mà một nền kinh tế có thể đạt được (mức hiệu quả lý tưởng). Trong thực tế rất khó có thể đạt được mực hiệu quả này, nói cách khác, quan điểm này mang tính chất thuần tuý lý tưởng.
Theo quan điểm của Nhà kinh tế học người Anh Adam Smith, thì : “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Với quan điểm này, Adam Smith đã đánh đồng hiệu quả và kết quả mà thật ra giữa chúng có sự khác nhau. Theo đây thì nếu một kết quả của các mức chi phí khác nhau thì có cùng một hiệu quả như nhau. Như vậy, Ông mới chỉ quan tâm đến đầu ra chứ chưa quan tâm đến việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào.
Theo quan điểm của Nhà kinh tế học Manfred Kuhn: “ Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Nếu như Adam Smith cho rằng hiệu quả được đo bằng kết quả thì Manfred Kuhn cho rằng hiệu quả được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả ấy. Nếu như Adam Smith mới chỉ quan tâm đến kết quả tạo ra thì Manfred Kuhn coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào, gắn kết quả với chi phí tạo ra kết quả đó. Tuy nhiên, quan điểm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí, chưa phản ánh mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này.
Cũng quan niệm về hiệu quả, Whole cho rằng: “Hiệu quả là mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (cái, chiếc, kilôgam…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, ngày lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu,…), được gọi là hiệu quả có tính chất kỹ thuật”. Theo quan điểm này thì hiệu quả mới chỉ phản ánh về mặt lượng (nêu lên mức năng suất của các yếu tố đầu vào và đầu ra), mới chỉ nêu lên một khía cạnh của hiệu quả là năng suất. Ưu điểm của quan điểm này là có thể so sánh năng suất của năm này với năm khác với cùng một đơn vị đo. SVTH: Trương Thị Kim Anh 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Trương Tấn Quân Theo quan điểm của Doring thì: “Hiệu quả là mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra, được gọi là hiệu quả xét về mặt giá trị”. Giống như quan điểm của Whole, quan điểm của Doring mới chỉ đề cập đến một khía cạnh của hiệu quả nhưng khác ở chỗ khía cạnh được đề cập đến ở đây là chi phí. Hiệu quả ở đây được xác định bằng cách xác định chi phí kinh doanh thấp nhất trong điều kiện thuận lợi nhất rồi đem so sánh chi phí thực tế phát sinh với chi phí kế hoạch. Hạn chế của quan điểm này là chưa xét tới toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh để có thể giảm thiểu chi phí.
Một quan điểm khác thuộc Khoa Thương mại, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một quá trình sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu xác định”. So với các quan điểm trên thì quan điểm này phản ánh tốt nhất trình độ lợi dụng ở mọi điều kiện biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh, theo quan điểm này ta có thể xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện biến đổi. Từ các quan điểm trên chúng ta có thể đưa ra một khái niệm bao quát nhất về hiệu quả: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa kết quả mà quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra và chi phí tạo ra kết quả đó”. Khái niệm đó đánh giá đối với mỗi đơn vị hao phí nguồn lực sẽ tạo ra kết quả như thế nào.