CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh Dương Thu Minh cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh: So sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được”. Nâng cao hiệu quả kinh doanh được hiểu là làm cho các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của DN tăng lên thường xuyên và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực.
(Dương Thu Minh, 2017) Cùng với đó, TS. Đỗ Huyền Trang định nghĩa “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế được biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc các yếu tố đầu vào, qua đó phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội”. (Đỗ Huyền Trang, 2018) Nhìn chung từ hai quan điểm trên, các tác giả đều đề cập đến cùng một nội dung: Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh của DN phải được xem xét một cách toàn diện cả về không gian và thời gian, cả về mặt định tính và định lượng.
Hiệu quả kinh doanh chỉ được coi là đạt được một cách toàn diện khi hoạt động của các bộ phận mang lại hiệu quả không ảnh hưởng đến hiệu quả chung. Điều đó có nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí kinh doanh và khai thác các nguồn lực sẵn có làm sao đạt được kết quả lớn nhất. Khái quát chung về phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm phân tích hiệu quả kinh doanh “Phân tích hiệu quả kinh doanh là việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật phân tích để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN, từ đó cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm cho việc ra quyết định”.
Hoặc có thể hiểu: Phân tích hiệu quả kinh doanh là chia nhỏ quá trình và kết quả kinh doanh của DN ra thành các bộ phận cấu thành rồi sử dụng các công cụ phân tích như so sánh, đối chiếu… nhằm làm rõ hiệu 5 quả của hoạt động kinh doanh của DN và các tiềm năng cần được khai thác. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề quan trọng, được nhiều DN quan tâm hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Con đường cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh doanh là tìm mọi biện pháp để tăng doanh thu hoặc giảm chi phí, hoặc làm cho tốc độ tăng doanh thu phải nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí. Các biện pháp để thực hiện rất khác nhau, tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng DN.
Ý nghĩa phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hiệu quả kinh doanh chính là công cụ giúp các nhà quản lý nhận thức được các hiện tượng, các tín hiệu kinh tế diễn ra trong DN trong một thời kì nhất định, là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng và hạn chế trong kinh doanh, là cơ sở để đưa ra các quyết định trong kinh doanh và là biện pháp quan trọng để phòng rủi ro trong kinh doanh. Thông tin từ các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh cung cấp cơ sở khoa học để nhà phân tích cũng như người sử dụng kết quả phân tích đưa ra các quyết định hữu ích cho các mục tiêu khác nhau. Kết quả phân tích không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị bên trong mà còn cả bên ngoài DN. Chẳng hạn, các nhà quản trị DN sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, nhà đầu tư sẽ quyết định có nên đầu tư thêm hay thu hồi vốn; người cho vay sẽ quyết định nên cho vay hay không, nếu cho vay thì nên cho vay ngắn hạn, dài hạn, nhiều hay ít vốn.
Cụ thể: Đối với nhà quản trị DN (giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị và trưởng các bộ phận): Trong kinh doanh, dù ở bất kỳ DN nào, hình thức hoạt động nào cũng không sử dụng hết tiềm năng sẵn có trong DN mình, đó là những khả năng tiềm ẩn chưa phát hiện được. Nhà quản trị dựa vào kết quả của việc phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng TS, nguồn vốn, chi phí, từ đó phát huy những mặt tích cực và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DN. Đối với các nhà đầu tư (cổ đông, các công ty liên doanh): Thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận, cổ tức… để có thể dự đoán các điều kiện kinh doanh trong DN trong thời gian tới để tiếp thêm sức mạnh đưa ra các quyết định đầu tư thêm, hay rút vốn nhằm thu lợi nhuận cao nhất và đảm bảo an 6 toàn cho vốn đầu tư. Đối với các đối tượng cho vay (ngân hàng, kho bạc, công ty tài chính): Thông qua các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh để có cơ sở khoa học đánh giá điều kiện tài chính của DN hiện tại, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, hoàn trả các khoản vay của DN trong tương lai nhằm đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn, dài hạn, nhiều hay ít vốn nhằm thu hồi được vốn và lãi, đảm bảo an toàn cho các công ty cho vay.
Đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước (cơ quan thuế, kiểm toán nhà nước, cơ quan thống kê): Thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn ngân sách để kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ của DN đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện luật kinh doanh, các chế độ tài chính có đúng không, đánh giá tốc độ tăng trưởng của các DN. Thông qua phân tích để kiến nghị với các cơ quan chức năng góp phần hoàn thiện chế độ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển. Tóm lại, thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh rất hữu ích với nhiều đối tượng khác nhau, từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh có lợi cho từng đối tượng. Phân biệt giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh Để làm sáng tỏ bản chất của hiệu quả kinh doanh, ta tìm hiểu để tránh nhầm lẫn giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh như sau: Kết quả kinh doanh là những chỉ tiêu tài chính phản ánh quy mô thu về của các hoạt động như: sản lượng tiêu thụ, doanh thu bán hàng, lợi nhuận sau thuế… Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh cũng thường chia làm 2 nhóm: Các chỉ tiêu phản ánh kết quả trung gian của DN như: sản lượng sản phẩm sản xuất, doanh thu bán hàng,… Các chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của DN như lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế… Hiệu quả kinh doanh đó là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động trong các điều kiện sẵn có để đạt được các mục tiêu tối ưu.
Hiệu quả kinh doanh cũng thường được chia thành 2 nhóm: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh phía trước, thường phản ánh sức sản xuất của vốn, TS như hiệu suất sử dụng HTK, hiệu suất sử 7 dụng tài sản… Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cuối cùng thường là các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất sinh lời như ROA, ROE, ROS… 1. Tài liệu phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Báo cáo tài chính Phân tích hiệu quả kinh doanh của DN thường được phân tích thông qua việc phân tích báo cáo tài chính, qua đó người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng cũng như những rủi ro trong tương lai của DN. Các tài liệu để phân tích hiệu quả kinh doanh bao gồm: 1.
Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kết toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của DN tại một thời điểm nhất định. BCĐKT có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức quản lý. Căn cứ vào BCĐKT, chúng ta có thể biết được toàn bộ tài sản hiện có của đơn vị, hình thức vật chất và cơ cấu tài sản, nguồn vốn, thông qua đó đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN thời điểm lập báo cáo. Kết cấu BCĐKT gồm 2 phần: Phần Tài sản: Với DN, tài sản được phản ánh là tổng thể các giá trị DN có được tại thời điểm lập báo cáo thông qua tính chất sở hữu thuộc quyền quản lí và sử dụng của DN.
Các loại tài sản được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần bao gồm: TSNH và TSDH. Phần Nguồn vốn: Nguồn vốn phản ánh toàn bộ nguồn hình thành tài sản hiện có của DN tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của DN đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại DN. Các loại nguồn vốn được sắp xếp theo trách nhiệm của DN trong việc sử dụng nguồn vốn đối với chủ nợ và chủ sở hữu bao gồm NPT và VCSH.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh BCKQHĐKD là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của DN, bao gồm kết quả kinh doanh và kết quả khác trong một kỳ hoạt động của DN. Nói cách khác, BCKQHĐKD là phương tiện trình bày khả năng 8 sinh lời và thực trạng hoạt động kinh doanh của DN. Các chỉ tiêu thể hiện trong BCKQHĐKD là những chỉ tiêu thời kì, nó thể hiện kết quả đạt được của một đơn vị sau một thời gian hoạt động nhất định, vì vậy nguồn số liệu để lập nên các chỉ tiêu trong báo cáo cũng phải có đặc tính tương tự. Cụ thể trong hệ thống tài khoản kế toán DN số phát sinh các tài khoản loại 5 đến loại 8 sẽ được sử dụng để lập báo cáo kết quả kinh doanh.
Tóm lại, đọc hiểu BCKQHĐKD giúp nhà phân tích có thể : Đánh giá kết quả chung cũng như của từng hoạt động trong DN. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu, chi phí, lợi nhuận. Đánh giá xu hướng và dự báo.