phần mở đầu và kết luận, dự kiến đề tài có 3 phần chính: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về tạo động lực làm việc. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc tại trƣờng Cao đẳng - Chƣơng 3: Một số giải pháp thúc đẩy động lực làm việc cho cán bộ, giáo viên trƣờng Cao đẳng Phƣơng Đông – Quảng Nam. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1.
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về quản trị nguồn nhân lực và sau đây là một số khái niệm: - Quản trị nguồn nhân lực là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý có liên quan, ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhân viên của nó. - Quản trị nguồn nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cƣờng những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức đồng thời cố gắng đạt đƣợc những mục tiêu của cá nhân. - Quản trị nguồn nhân lực là đảm bảo có đúng ngƣời với kỹ năng và trình độ phù hợp, vào đúng công việc và vào đúng thời điểm thích hợp để thực hiện mục tiêu của công ty. - Quản trị nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con ngƣời đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực nhƣ hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, thù lao, sức khoẻ và an toàn nhân viên, và tƣơng quan lao động…[1, 14] - Nhân sự bao gồm tất cả các tiềm năng nhân lực trong một hệ thống xã hội về sản xuất (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp).
Điều này có nghĩa là “Nhân sự bao gồm tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức”. Vì vậy: “Quản trị nhân sự là toàn bộ mục tiêu, chiến lƣợc và công cụ mà qua đó các quản trị viên và nhân viên trong doanh nghiệp dùng làm nền tảng trong cung cách ứng xử”. Định nghĩa này đã chỉ ra đƣợc vai trò của quản trị nguồn nhân 10 lực là nền tảng để từ đó điều chỉnh các hành vi, cung cách của các nhân viên và quản trị viên của doanh nghiệp. Vai trò quản trị nguồn nhân lực Quản trị nhân lực đóng vai trò trọng tâm trong việc thành lập các tổ chức, nó giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trƣờng.
Tầm quan trọng của quản trị nhân lực trong tổ chức xuất phát từ vai trò quan trọng của con ngƣời. Con ngƣời là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức. Quản trị nhân lực không chỉ có bộ phận quản trị nhân sự đảm nhận mà do nhiều bộ phận đảm nhận [9, 10, 14]. Trong thời đại ngày nay, vai trò quản trị nhân lực có tầm quan trọng ngày càng tăng vì những lý do sau: - Trong nền kinh tế thị trƣờng, các tổ chức muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tổ tổ chức của mình theo hƣớng tinh giảm, gọn nhẹ, năng động trong đó yếu tố con ngƣời mang tính quyết định.
Bởi vậy việc tìm đúng ngƣời phù hợp để giao đúng việc, đúng cƣơng vị đang là vấn đề đáng quan tâm đối với mọi loại hình tổ chức hiện nay. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật buộc các nhà quản trị phải biết thích ứng. Do đó, việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, điều động nguồn nhân lực trong tổ chức nhằm đạt hiệu quả tối ƣu là vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu. - Nghiên cứu quản trị nhân lực giúp cho nhà quản trị học đƣợc cách giao tiếp với ngƣời khác, biết cách đặt câu hỏi và biết lắng nghe, biết cách tìm ra ngôn từ chung với nhân viên của mình, và biết cách nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết cách lôi cuốn nhân viên của mình say mê với công việc và tránh đƣợc những sai lầm trong việc tuyển chọn và sử dụng lao động để nâng cao chất lƣợng thực hiện công việc và hiệu quả hơn trong công tác quản lý của tổ chức.
Chức năng của quản trị nguồn nhân lực - Nghiên cứu tài nguyên nhân sự, hoạch định nguồn tài nguyên nhân sự, tuyển dụng, bố trí và phát triển; quản trị tiền lƣơng, quan hệ lao động, dịch vụ và phúc lợi, y tế và an toàn. 11 - Các hoạt động liên quan đến quản lý nguồn lao động rất đa dạng và thay đổi trong các tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, có thể phân chia các hiệu quả chủ yếu của quản lý theo ba nhánh chức năng: Nhóm chức năng thu hút nguồn lao động; chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân sự; chức năng duy trì nguồn lao động. Nhóm chức năng thu hút nguồn lao động: Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo về số lƣợng lao động với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp.
Để có thể tuyển đƣợc đúng ngƣời đúng việc, cần phải căn cứ vào kế hoạch kinh doanh và thực trạng sử dụng lao động trong doanh nghiệp. Chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân sự: Nhằm nâng cao năng lực của nhân viên và báo cho nhân viên các kỷ năng trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành công việc đƣợc giao và tạo điều kiện cho nhân viên phát triển năng lực của mình. Chức năng duy trì nguồn lao động: Nhóm chức năng này liên quan đến các chính sách và các hoạt động tự học nhằm kích thích động viên ngƣời lao đông vào việc hăng say nhiệt tình hoàn thành tốt công việc đƣợc giao. Doanh ngiệp xây dựng hệ thống thang lƣơng bậc lƣơng và áp dụng các chính sách lƣơng bổng phù hợp và thực hiện các chính sách khen thƣởng phú lợi phụ cấp.
Chức năng quan hệ lao động nhằm hoàn thiện môi trƣờng làm việc và các mối quan hệ trong công việc một cách tốt đẹp. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản a. Nhu cầu: Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau. Động cơ: Theo góc độ kinh tế: Động cơ là mục tiêu chủ quan trong hoạt động của con ngƣời nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra. Động cơ phản ánh những mong muốn, những nhu cầu của con ngƣời và là lý do của hành động. Nhu cầu của con ngƣời rất đa dạng, trong đó có những nhu cầu nổi bật trong một thời điểm nào đó.
Động cơ chính là nhu cầu mạnh nhất của con ngƣời, trong một thời điểm nhất định và nhu cầu này quyết định hành động của con ngƣời. [2] Theo góc độ tâm lý học: Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con ngƣời. Chính những hình ảnh tâm lý đó đã chỉ huy con ngƣời hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu và tình cảm của họ. Động cơ của con ngƣời đều dựa trên những nhu cầu.
Nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi có 3 yếu tố: sự mong muốn, sự chờ đợi; tính hiện thực của sự mong muốn; hoàn cảnh môi trƣờng xung quanh. Thúc đẩy: Thúc đẩy là quá trình tâm lý diễn ra do sự tác động có mục đích và theo định hƣớng của con ngƣời. Trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, thúc đẩy là những tác động hƣớng đích của doanh nghiệp nhằm động viên nhân viên nâng cao thành tích và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả [1] d. Động lực: Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con ngƣời để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt đƣợc mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó.
Tạo động lực: Tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động đƣợc hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào ngƣời lao động nhằm tạo ra động cơ cho ngƣời lao động, nhằm khích lệ họ nâng cao thành tích và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả động. Vai trò tạo động lực lao động Ngày nay, thế giới đã đổi thay trên mọi phƣơng diện từ kinh tế, chính trị, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển của khoa học, sự bùng nổ của khoa học công nghệ thông tin và đi kèm với nó là những sáng kiến về kỹ thuật. Ngƣời ta đã chế tạo thành công các trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này đã đƣa con ngƣời bƣớc sang một trang sử mới.
Tuy vậy, máy móc vẫn là nhu cầu thiết yếu song con ngƣời vẫn là một yếu tố quan trọng để điều khiển máy móc thiết bị đó. Và khi nhu cầu của con ngƣời thay đổi thì máy móc, thiết bị chẳng còn ý nghĩa gì. Nên khi con ngƣời tham gia vào một tổ chức nào đó, ngoài việc đƣợc thoả mãn nhu cầu đƣợc làm việc và nhu cầu phục vụ cho xã hội thì bên cạnh đó họ còn có nhiều nhu cầu và mục đích khác. Nếu một nhu cầu hay mục đích thiết yếu nào đó mà họ không thể thực hiện đƣợc thì học có thể rời bỏ tổ chức, họ tự làm một mình mà không có sự tác động của một tổ chức.
Nhƣng nhu cầu và nguyện vọng đó đƣợc giải quyết một cách thoả đáng thì họ sẽ cố gắng phấn đấu để giữ lấy thành quả của mình và họ cống hiến hết sức lực và tâm huyết của mình cho tổ chức. Tuy nhiên trong mỗi con ngƣời chúng ta tham vọng vẫn là vấn đề luôn tồn tại và nếu tham vọng đó không đƣợc giải quyết thì mọi chuyện sẽ trở nên xấu. Tạo động lực lao động có vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp. Cho dù tổ chức, công ty có sức mạnh về mọi mặt nhƣng không quan tâm đến vấn đề tạo động lực làm việc thì chắc chắn công ty sẽ không khai thác tối đa về nguồn lực trong công ty, làm cho chất lƣợng công việc tốt hơn từ đó công ty khó có thể cạnh tranh với các đơn vị khác trên thị trƣờng.