Luận văn thạc sĩ hus phân tích di truyền gen sửa chữa bắt cặp sai msh2 từ bệnh nhân ung thư đại trực tràng

Luận văn thạc sĩ phân tích di truyền gen sửa chữa msh2 từ bệnh nhân ung thư đại trực tràng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế bệnh lý.

Chuyên ngành

Di truyền học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

83
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Những nét khái quát về ung thƣ, bệnh ung thƣ và gen ung thƣ

1.2. Những hiểu biết về ung thƣ đại trực tràng

1.3. Lịch sử nghiên cứu ung thư đại trực tràng

1.4. Sơ lược về bệnh ung thư đại trực tràng

1.5. Cơ sở phân tử của ung thư đại trực tràng di truyền

1.6. Hệ thống gen MMR và đột biến gen MSH2 với hội chứng ung thƣ đại trực tràng

1.6.1. Hệ thống gen MMR

1.6.2. Gen MSH2 và đột biến gây ung thư đại trực tràng

1.7. Một số kỹ thuật di truyền sử dụng trong nghiên cứu ung thƣ đại trực tràng

1.7.1. Kỹ thuật phân tích các trình tự lặp lại đơn giản SSR

1.7.2. Kỹ thuật đa hình chiều dài các đoạn cắt giới hạn RFLP

1.7.3. Kỹ thuật phân tích đa hình sợi đơn SSCP

1.7.4. Kỹ thuật phân tích sợi đôi dị hợp HET

1.7.5. Kỹ thuật điện di gel gradient biến tính DGGE

1.7.6. Các phương pháp giải trình tự ADN

1.8. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

1.8.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.8.2. Nội dung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu, địa điểm, hoá chất và thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

2.2. Vật liệu nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Hóa chất và thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.5.1. Thu thập và bảo quản mẫu

2.5.2. Tách ADN tổng số

2.5.3. Xác định độ tinh sạch và hàm lượng ADN tổng số

2.5.4. Nhân bản các exon nhờ phản ứng PCR

2.5.5. Kỹ thuật SSCP trong phân tích đột biến gây ung thư đại trực tràng

2.5.6. Giải trình tự ADN

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả tách chiết ADN tổng số

3.2. Kết quả nhân bản 09 exon gen MSH2

3.2.1. Kết quả nhân bản exon 2

3.2.2. Kết quả nhân bản exon 3

3.2.3. Kết quả nhân bản exon 6

3.2.4. Kết quả nhân bản exon 7

3.2.5. Kết quả nhân bản exon 8

3.2.6. Kết quả nhân bản exon 12

3.2.7. Kết quả nhân bản exon 13

3.2.8. Kết quả nhân bản exon 14

3.2.9. Kết quả nhân bản exon 15

3.3. Kết quả phân tích đột biến trên 09 exon gen MSH2

3.3.1. Kết quả phân tích đột biến exon 2

3.3.2. Kết quả phân tích đột biến exon 3

3.3.3. Kết quả phân tích đột biến exon 6

3.3.4. Kết quả phân tích đột biến exon 7

3.3.5. Kết quả phân tích đột biến exon 8

3.3.6. Kết quả phân tích đột biến exon 12

3.3.7. Kết quả phân tích đột biến exon 13

3.3.8. Kết quả phân tích đột biến exon 14

3.3.9. Kết quả phân tích đột biến exon 15

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Tích Di Truyền Gen MSH2 Trong Ung Thư Đại Trực Tràng

Phân tích di truyền gen MSH2 đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ cơ chế phát sinh ung thư đại trực tràng. Gen MSH2 là một phần của hệ thống sửa chữa bắt cặp sai (MMR), có trách nhiệm phát hiện và sửa chữa các lỗi trong quá trình sao chép ADN. Đột biến trong gen này có thể dẫn đến sự tích lũy các đột biến khác, từ đó làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Nghiên cứu về gen MSH2 không chỉ giúp xác định nguy cơ di truyền mà còn hỗ trợ trong việc phát hiện sớm và điều trị bệnh.

1.1. Giới Thiệu Về Gen MSH2 Và Vai Trò Của Nó

Gen MSH2 là một trong những gen chính trong hệ thống sửa chữa bắt cặp sai MMR. Nó có chức năng nhận diện và sửa chữa các lỗi trong ADN, giúp duy trì tính ổn định của gen. Đột biến trong gen MSH2 có thể dẫn đến sự phát triển của ung thư đại trực tràng, đặc biệt trong hội chứng HNPCC.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Gen MSH2

Nghiên cứu gen MSH2 không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế di truyền của ung thư đại trực tràng mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc chẩn đoán và điều trị. Việc phát hiện sớm các đột biến trong gen này có thể giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phân Tích Gen MSH2

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong nghiên cứu gen MSH2, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc phân tích và hiểu rõ các đột biến liên quan đến ung thư đại trực tràng. Các vấn đề như độ phức tạp của gen, sự đa dạng của các đột biến và sự khác biệt giữa các cá thể là những yếu tố cần được xem xét.

2.1. Độ Phức Tạp Của Gen MSH2

Gen MSH2 có cấu trúc phức tạp với nhiều exon và intron, điều này làm cho việc phân tích và xác định các đột biến trở nên khó khăn. Các kỹ thuật hiện tại như giải trình tự ADN và phân tích đa hình sợi đơn (SSCP) cần được cải tiến để tăng độ chính xác.

2.2. Sự Đa Dạng Của Các Đột Biến

Có hàng trăm loại đột biến khác nhau trong gen MSH2, từ các đột biến điểm đến các đột biến lớn hơn như mất đoạn. Sự đa dạng này làm cho việc phát hiện và phân loại các đột biến trở nên phức tạp, đòi hỏi các phương pháp phân tích tiên tiến.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Gen MSH2 Trong Ung Thư Đại Trực Tràng

Để phân tích gen MSH2, nhiều phương pháp hiện đại đã được áp dụng, bao gồm kỹ thuật PCR, giải trình tự ADN và phân tích đa hình sợi đơn. Những phương pháp này giúp xác định các đột biến và hiểu rõ hơn về cơ chế di truyền của ung thư đại trực tràng.

3.1. Kỹ Thuật PCR Trong Phân Tích Gen

Phương pháp PCR (Phản ứng chuỗi trùng hợp) được sử dụng để nhân bản các đoạn ADN của gen MSH2. Kỹ thuật này cho phép thu được số lượng lớn ADN cần thiết cho các phân tích tiếp theo.

3.2. Giải Trình Tự ADN Để Xác Định Đột Biến

Giải trình tự ADN là một trong những phương pháp chính để xác định các đột biến trong gen MSH2. Phương pháp này giúp phát hiện các thay đổi trong trình tự nucleotid, từ đó xác định được các đột biến có thể gây ung thư.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Gen MSH2

Nghiên cứu gen MSH2 có nhiều ứng dụng thực tiễn trong y học, đặc biệt trong việc chẩn đoán và điều trị ung thư đại trực tràng. Việc phát hiện sớm các đột biến có thể giúp cải thiện tỷ lệ sống sót và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

4.1. Chẩn Đoán Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng

Phân tích gen MSH2 giúp phát hiện sớm các nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng, từ đó có thể thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người có tiền sử gia đình mắc bệnh.

4.2. Phát Triển Các Phương Pháp Điều Trị Mới

Nghiên cứu về gen MSH2 cũng mở ra cơ hội phát triển các phương pháp điều trị mới, nhắm vào các đột biến cụ thể. Điều này có thể giúp tăng hiệu quả điều trị và giảm tác dụng phụ cho bệnh nhân.

V. Kết Luận Về Phân Tích Gen MSH2 Trong Ung Thư Đại Trực Tràng

Phân tích di truyền gen MSH2 là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong việc hiểu rõ cơ chế phát sinh ung thư đại trực tràng. Những kết quả từ nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về bệnh mà còn hỗ trợ trong việc phát hiện và điều trị hiệu quả hơn.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Gen MSH2

Nghiên cứu gen MSH2 sẽ tiếp tục phát triển với sự hỗ trợ của công nghệ sinh học hiện đại. Các phương pháp mới sẽ giúp cải thiện độ chính xác và hiệu quả trong việc phát hiện các đột biến.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Di Truyền

Nghiên cứu di truyền không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ung thư đại trực tràng mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu về các loại ung thư khác. Điều này có thể giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng và giảm tỷ lệ mắc bệnh.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus phân tích di truyền gen sửa chữa bắt cặp sai msh2 từ bệnh nhân ung thư đại trực tràng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ UNG THƢ, BỆNH UNG THƢ VÀ GEN UNG THƢ 1. Ung thƣ và bệnh ung thƣ Ung thư là sự phân chia một cách bất thường của một nhóm tế bào tạo thành những khối u.

Các khối u này là tập hợp các tế bào có quan hệ di truyền với nhau, chúng có khả năng phân chia không kiểm soát. Chính vì thế, thuật ngữ “ung thư” theo nghĩa hẹp được dùng để chỉ những khối u có khả năng xâm lấn các tổ chức mô xung quanh gồm các tế bào bình thường [4]. Để phân biệt giữa khối u lành và khối u ác tính ta dựa vào khả năng xâm lấn của các tế bào bất thường đối với các tế bào xung quanh nó. Nếu là khối u lành, nó chỉ hình thành nên những tổ chức tế bào có khả năng sinh sản bất thường, khi tiếp xúc với mạch máu hay mạch bạch huyết cũng không có khả năng di chuyển tới một vị trí, một mô hay bất kì một cơ quan nào khác [4].

Ngược lại, nếu là khối u ác tính sẽ có thể di chuyển (di căn) tới bất cứ vị trí nào và tiếp tục tăng sinh mạnh ngay tại vị trí mà chúng chuyển tới. Các u di căn có khả năng gây ra những rối loạn cục bộ chức năng của các mô, thậm chí cả các mô liên đới và có thể dẫn đến tử vong. Các khối u thường phát sinh từ một tế bào ban đầu bị biến đổi di truyền nhất định khiến chúng có khả năng tăng sinh mạnh, được gọi là quá trình phát sinh ung thư hay sự phát sinh ung thư. Các khối u thường bắt nguồn từ những u nhỏ lành tính sau đó chuyển sang trạng thái ác tính và di căn.

Các khối u này có xu hướng tích lũy các biến đổi di truyền và tạo nên các đặc tính mới. Sự tích lũy các gen ung thư ở các tế bào khối u chính là nguồn gốc phát sinh ung thư [4]. Bệnh ung thư được dùng để chỉ một nhóm bệnh đa dạng nào đó ở người. Và trong số đó, một vài bệnh chỉ đơn thuần gây nên những biến đổi nhỏ về sinh lí, còn phần lớn là gây ra những rối loạn sinh lí nghiêm trọng.

Các bệnh ung thư phổ biến ở 3 Học viên Khóa 2010 – 2012 Nguyễn Thị Mai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Cao học Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hồng Vân người trưởng thành là các bệnh như ung thư biểu mô (caxinôm), ung thư mô liên kết (sacôm), ung thư bạch huyết và bạch cầu còn gọi là các khối u dạng lỏng [4]. Các bệnh ung thư đều phát sinh do sự biến đổi các gen tạo nên các alen đột biến. Trong thực tế, sự phát sinh các bệnh ung thư lại liên quan đến nhiều nhân tố.

Nhờ những tiến bộ về khoa học kĩ thuật với các công cụ nghiên cứu và phân tích di truyền hiện đại đã dần làm sáng tỏ cơ chế phát sinh ung thư. Đặc biệt, những nghiên cứu trong khoảng 20 năm trở lại đây đã mang lại những kiến thức thiết thực và nhất quán. Những nghiên cứu này đã hình thành nên các nguyên lý di truyền học ung thư. Tuy nhiên, mãi tới đầu thế kỉ XIX ung thư mới thật sự được ghi nhận [4].

Gen ung thƣ (oncogene) Gen ung thư là một dạng đột biến làm tăng nguy cơ ung thư hoặc làm thúc đẩy quá trình phát sinh ung thư. Ngoài ra, gen ung thư cũng có thể được coi như các dạng alen đặc biệt do các gen bình thường xuất hiện các đột biến [4]. Còn gen gây ung thư được coi là một dạng đặc biệt của gen ung thư. Nếu gen ung thư sinh ra bởi đột biến, thì gen gây ung thư chỉ làm thay đổi chứ không làm mất chức năng sản phẩm của protein mà gen đó tạo ra.

Trong quá trình tăng trưởng, các khối u tích lũy dần các gen ung thư. Sự tích lũy này chủ yếu theo ba con đường sau: 1. Sự tích lũy truyền qua các tế bào dòng sinh dục. Sự tích lũy do đột biến tự phát trong tế bào sôma.

Sự tích lũy đột biến do lây nhiễm virut. Trong đó, gen ung thư dòng sinh dục chiếm tỉ lệ nhỏ (từ 0,1 – 10%) nhưng lại rất đáng kể trong các trường hợp gây ung thư ở người [4]. Còn gen ung thư dòng tế bào sôma đươc gọi là các đột biến sôma. Đột biến sôma dùng để chỉ quá trình phát sinh đột biến cũng như sản phẩm do quá trình đột biến đó tạo ra.

4 Học viên Khóa 2010 – 2012 Nguyễn Thị Mai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Cao học Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hồng Vân Cả hai loại đột biến dòng sinh dục và đột biến sôma đều có thể làm biến đổi một gen bình thường tạo nên dạng alen đột biến. Nhưng không phải tất cả mọi đột biến gen đều dẫn đến phát sinh ung thư. Riêng dạng tích lũy gen ung thư trong cơ thể do nhiễm virut thì ít phổ biến hơn và thường giới hạn trong một số bệnh nhất định (ví dụ virut viêm gan B, C gây ung thư gan, virut HPV gây ung thư cổ tử cung.

Ở dạng phát sinh ung thư này, virut đóng vai trò quan trọng. Nó không chỉ là nhân tố truyền gen ung thư mà còn trực tiếp làm biến đổi môi trường mà ở đó các gen ung thư có thể được nhân lên nhanh chóng và được phát tán rộng rãi. NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ UNG THƢ ĐẠI TRỰC TRÀNG 1. Lịch sử nghiên cứu ung thƣ đại trực tràng Ung thư đại trực tràng là bệnh lý khá phổ biến trong các bệnh ung thư có liên quan đến hệ tiêu hóa.

Trong đó, ung thư đại trực tràng không polyp di truyền được xem là hội chứng thường gặp nhất khi nhắc đến ung thư đại trực tràng. Vào cuối thế kỉ XIX (năm 1895), ung thư đại trực tràng được phát hiện bởi Aldred Warthin. Theo quan sát của ông trên một gia đình làm thợ may, có rất nhiều người bị chết bởi ung thư đại trực tràng hoặc ung thư nội mạc tử cung [34]. Tuy nhiên, ông chỉ dừng lại ở việc quan sát mà chưa đi sâu vào nghiên cứu những ghi chép của mình nên đặc tính di truyền của hội chứng này chỉ được biết đến sau những công bố của bác sĩ Henry Lynch.

Theo kết quả của ông cho biết, ở các thế hệ đầu, ung thư dạ dày chiếm ưu thế. Càng về sau, ung thư đại tràng xuất hiện càng nhiều hơn. Sự thay đổi này phản ánh những biến đổi của môi trường có liên quan đến từng giai đoạn phát triển của bệnh ung thư cũng như loại ung thư, đồng thời khẳng định, sự biến đổi môi trường là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến ung thư đại tràng [4]. 5 Học viên Khóa 2010 – 2012 Nguyễn Thị Mai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Cao học Người hướng dẫn: TS.

Nguyễn Thị Hồng Vân Hội chứng Lynch được chia thành hội chứng Lynch I và hội chứng Lynch II để phân biệt các gia đình chỉ có ung thư đại tràng với các gia đình có cả ung thư đại tràng lẫn các loại ung thư khác. Ngày nay, người ta cho rằng, các gia đình có các bệnh ung thư liên quan tới ung thư ruột kết đều được coi là HNPCC [17]. Đến năm 1993, một sai hỏng mới và hiếm gặp trong hệ thống gen MMR của một bệnh nhân mắc ung thư ruột kết được phát hiện đã cung cấp một đầu mối quan trọng trong quá trình nghiên cứu ung thư đại trực tràng di truyền. Nghiên cứu được tiến hành trên những đột biến mất đoạn và đột biến khuếch đại gen nhằm chỉ ra các gen ung thư và gen áp chế khối u mới.

Kết quả, đã tìm thấy các biến đổi sôma về độ dài các trình tự lặp lại được biết đến như các vi vệ tinh [19], [36]. Một nghiên cứu khác cũng tìm thấy những biến đổi liên quan đến sự hình thành khối u ở đoạn đầu ruột kết. Gần đây nhất, người ta đang nỗ lực lập bản đồ cho các vùng bị mất tính dị hợp tử LOH và cũng đã phát hiện được các đột biến ở trình tự vi vệ tinh. Nhờ đó người ta đã khám phá ra bản chất di truyền của ung thư đại trực tràng và khẳng định, hội chứng này do một số gen xảy ra các đột biến khác nhau, được di truyền qua các thế hệ và biểu hiện rõ rệt ở một số dòng họ.

Ngoài ra, tính hỗn tạp của các gen gây ung thư ở các bệnh nhân ung thư ruột kết di truyền cũng được biết đến như là một tác nhân gây khó khăn trong chẩn đoán và phát hiện bệnh [20]. Sơ lƣợc về bệnh ung thƣ đại trực tràng Ung thư đại trực tràng là một loại ung thư biểu mô, chiếm 11,5% tổng số các ca ung thư và chiếm tới 15,2% tổng số các trường hợp tử vong vì ung thư. Loại ung thư này thường liên quan đến chế độ ăn uống và lối sống, gặp nhiều ở các nước phát triển, đặc biệt là các nước phương Tây và đang có xu hướng gia tăng ở các nước đang phát triển [4]. Riêng ở Việt Nam, ung thư đại trực tràng là một trong ba loại ung thư phổ biến hay gặp đối với hệ tiêu hóa.

Do đó, ngày càng có nhiều dự án tập trung những nghiên cứu nhằm tìm ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này. Theo thống kê 6 Học viên Khóa 2010 – 2012 Nguyễn Thị Mai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Cao học Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hồng Vân của Hội Ung thư Thành phố Hồ Chí Minh, ung thư đại trực tràng nằm trong số 5 bệnh ung thư có số người mắc cao nhất. Một khảo sát mới nhất về tình trạng ung thư tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, ung thư đại trực tràng xếp thứ 4 ở nam giới (sau ung thư gan, phổi, dạ dày) và xếp thứ 3 ở nữ giới (sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú).

Hiện nay, y học chưa biết chính xác nguyên nhân gây ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, có những yếu tố dẫn đến nguy cơ chắc chắn làm dễ mắc bệnh hơn tuổi tác. Vì trên 9% bệnh nhân ung thư đại trực tràng là trên 50 tuổi, có tiền sử bị polyp, viêm loét đại tràng và bệnh Crohn (một loại bệnh do hồi tràng – đoạn cuối ruột non bị tổn thương) trong gia đình có người mắc ung thư đại tràng hay đường ruột.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ