Phân Tích Danh Mục Thuốc Đã Sử Dụng Tại Trung Tâm Y Tế Thành Phố Tam Điệp, Tỉnh Ninh Bình Năm 2020

Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế thành phố Tam Điệp, Ninh Bình năm 2020 trong luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2020

106
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHỮ VIẾT TẮT

2. DANH MỤC BẢNG

3. ĐẶT VẤN ĐỀ

4. CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG THUỐC TRONG CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC

4.1. Các quy định sử dụng thuốc trong cơ sở khám chữa bệnh

4.2. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc

4.2.1. Phương pháp phân tích theo nhóm điều trị

4.2.2. Phương pháp phân tích ABC

4.2.3. Phương pháp phân tích VEN

4.2.4. Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN

5. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH

5.1. Thực trạng sử dụng thuốc hóa dược và chế phẩm y học cổ truyền

5.2. Thực trạng sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý

6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Tích Danh Mục Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế Thành Phố Tam Điệp

Phân tích danh mục thuốc tại Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình năm 2020 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc trong công tác khám chữa bệnh. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định cơ cấu danh mục thuốc mà còn chỉ ra những vấn đề tồn tại trong việc quản lý và sử dụng thuốc. Việc phân tích này có thể giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân.

1.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Danh Mục Thuốc

Mục tiêu chính của nghiên cứu là mô tả và phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp. Điều này bao gồm việc xác định các loại thuốc được sử dụng phổ biến, cũng như đánh giá tính hợp lý trong việc lựa chọn thuốc.

1.2. Ý Nghĩa Của Phân Tích Danh Mục Thuốc

Phân tích danh mục thuốc không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu chi phí cho người bệnh. Việc này cũng góp phần vào việc quản lý thuốc hiệu quả hơn, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại địa phương.

II. Những Thách Thức Trong Quản Lý Danh Mục Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế

Quản lý danh mục thuốc tại Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp gặp nhiều thách thức. Sự gia tăng số lượng thuốc trên thị trường đã tạo ra khó khăn trong việc lựa chọn thuốc phù hợp. Bên cạnh đó, việc thiếu thông tin và cập nhật về thuốc mới cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Lựa Chọn Thuốc

Sự phong phú về chủng loại thuốc khiến cho việc lựa chọn thuốc trở nên khó khăn. Các bác sĩ thường dựa vào kinh nghiệm cá nhân thay vì các tiêu chí khoa học, dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý.

2.2. Tác Động Của Chi Phí Thuốc Đến Người Bệnh

Chi phí thuốc ngày càng tăng cao, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Việc sử dụng thuốc không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng kháng thuốc, làm gia tăng chi phí điều trị.

III. Phương Pháp Phân Tích Danh Mục Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế

Để phân tích danh mục thuốc, nhiều phương pháp đã được áp dụng, bao gồm phân tích ABC và VEN. Những phương pháp này giúp xác định các loại thuốc cần ưu tiên trong việc mua sắm và sử dụng.

3.1. Phân Tích ABC Trong Quản Lý Thuốc

Phân tích ABC giúp phân loại thuốc theo mức độ tiêu thụ và chi phí. Nhóm A thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí thuốc, trong khi nhóm C chiếm tỷ lệ nhỏ hơn. Việc này giúp xác định các thuốc cần được quản lý chặt chẽ.

3.2. Phân Tích VEN Để Xác Định Ưu Tiên

Phân tích VEN phân loại thuốc thành ba nhóm: thuốc sống còn, thuốc thiết yếu và thuốc không thiết yếu. Điều này giúp các cơ sở y tế xác định được những thuốc cần ưu tiên trong việc mua sắm và sử dụng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Danh Mục Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ cấu danh mục thuốc tại Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp có sự phân bổ không đồng đều. Một số nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi phí thuốc, trong khi một số nhóm khác lại ít được sử dụng.

4.1. Cơ Cấu Danh Mục Thuốc Theo Nhóm Tác Dụng

Các nhóm thuốc như kháng sinh, thuốc tim mạch và thuốc điều trị tiểu đường chiếm tỷ lệ lớn trong danh mục thuốc. Điều này phản ánh nhu cầu điều trị phổ biến tại địa phương.

4.2. Tỷ Lệ Sử Dụng Thuốc Hóa Dược So Với Chế Phẩm Y Học Cổ Truyền

Tỷ lệ sử dụng thuốc hóa dược vẫn cao hơn so với chế phẩm y học cổ truyền. Điều này cho thấy sự ưu tiên trong việc lựa chọn thuốc có hiệu quả điều trị rõ ràng.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Về Danh Mục Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy cần có sự điều chỉnh trong việc xây dựng danh mục thuốc tại Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu chi phí cho người bệnh.

5.1. Đề Xuất Về Cải Thiện Quản Lý Thuốc

Cần xây dựng các quy trình quản lý thuốc chặt chẽ hơn, đồng thời cập nhật thông tin về thuốc mới để bác sĩ có thể lựa chọn thuốc phù hợp.

5.2. Tương Lai Của Danh Mục Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế

Trong tương lai, việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuốc có thể giúp cải thiện hiệu quả sử dụng thuốc, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

14/08/2025
Dương thị huyền trang phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại trung tâm y tế thành phố tam điệp tỉnh ninh bình năm 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong công tác khám chữa bệnh, cung ứng thuốc đóng vai trò lớn trong hiệu quả điều trị. Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí điều trị, tăng tính kháng thuốc, giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe và uy tín của cơ sở khám chữa bệnh. Trong những năm qua số lượng thuốc lưu hành trên thị trường không ngừng gia tăng. Điều này góp phần đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng, phong phú về chủng loại và giá cả cho điều trị bệnh.

Tuy nhiên nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện, khó khăn trong lựa chọn thuốc, tăng chi phí tiền thuốc. Để góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm chi phí tài chính cho người bệnh đồng thời giảm gánh nặng tài chính từ quỹ BHYT thì việc xây dựng DMT phù hợp với mô hình bệnh tật, phù hợp phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu điều trị là một việc làm cần thiết. Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp là Trung tâm Y tế hai chức năng trực thuộc Sở Y tế Ninh Bình, với sứ mệnh chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn thành phố Tam Điệp và các vùng phụ cận với mô hình bệnh tật đa dạng. Trong những năm gần đây việc xây dựng danh mục thuốc được quan tâm, chỉ đạo nhằm tăng cường sử dụng thuốc hiệu quả, hợp lý, an toàn.

Tuy nhiên công tác cung ứng, quản lý sử dụng thuốc còn gặp nhiều khó khăn, việc lựa chọn xây dựng danh mục thuốc phần lớn dựa vào kinh nghiệm, thói quen điều trị của bác sỹ, chưa có nhiều cập nhật lựa chọn thuốc mới. Đến nay chưa có phân tích cụ thể về danh mục thuốc sử dụng cũng như đánh giá vấn đề bất cập còn tồn tại trong sử dụng thuốc tại Trung tâm để giúp HĐT&ĐT tại đơn vị có cơ sở xây dựng, điều chỉnh và lựa chọn thuốc cho phù hợp. Do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài như sau: 1 Tên đề tài: “ Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế Tam Điệp tỉnh Ninh Bình năm 2020” Mục tiêu của đề tài: - Mục tiêu 1: Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình năm 2020. - Mục tiêu 2: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình theo phương pháp phân tích ABC, VEN, ma trận ABC/VEN.

Các quy định về sử dụng thuốc trong cơ sở khám chữa bệnh và một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc 1. Các quy định sử dụng thuốc trong cơ sở khám chữa bệnh Với mục tiêu đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân Chính phủ và Bộ Y tế đã ban hành Luật dược và nhiều Thông tư quy định việc sử dụng thuốc. Cụ thể là: - Luật dược số 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 quy định về chính sách của Nhà nước về dược và phát triển công nghiệp dược; hành nghề dược; kinh doanh dược; đăng ký, lưu hành, thu hồi thuốc và nguyên liệu làm thuốc; dược liệu và thuốc cổ truyền; đơn thuốc và sử dụng thuốc; thông tin thuốc, cảnh giác dược và quảng cáo thuốc; dược lâm sàng; quản lý thuốc trong cơ sở khám chữa bệnh; thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc; quản lý chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc và quản lý giá thuốc. - Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện.

Trong đó nêu rõ: HĐT&ĐT có chức năng tư vấn cho Giám đốc bệnh viện các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách Quốc gia về thuốc trong bệnh viện. Thông tư cũng quy định rõ nhiệm vụ của HĐT&ĐT là: xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện, xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện, xác định và phân tích các vấn đề liên quan sử dụng thuốc, HĐT&ĐT phải xác định các vấn đề liên quan đến thuốc trong suốt quá trình từ khi tồn trữ, bảo quản đến kê đơn, cấp phát và sử dụng. Đồng thời HĐT&ĐT cần áp dụng ít nhất một trong các phương pháp phân tích: phân tích nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN, giám sát các chỉ số sử dụng thuốc theo hướng dẫn của Bộ Y tế để phân tích sử dụng thuốc tại đơn vị. Qua đó Hội đồng sẽ xác định được các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp.

3 - Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ y tế ban hành hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Trong đó quy định về lựa chọn đường dùng thuốc cho bệnh nhân: căn cứ vào mức độ bệnh ý,, tình trạng người bệnh để ra y lệnh đường dùng thuốc phù hợp, chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm. Thực hiện thuốc cho người bệnh đảm bảo 5 đúng: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng đường dùng, đúng thời gian. Bác sỹ có trách nhiệm theo dõi tác dụng của thuốc và xử lý kịp thời các tai biến do dùng thuốc.

- Công văn số 3968/BHXH-DVT ngày 06/09/2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thống nhất tỷ lệ sử dụng Biệt dược gốc tại các tuyến điều trị theo chỉ đạo của Chính phủ trong đó khuyến cáo BV hạng 3 trực thuộc Sở Y tế các tỉnh, thành và các cơ sở khám chữa bệnh tương đương, tỷ lệ sử dụng biệt dược gốc không quá 4% so với tổng chi phí thuốc. Các BV có tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược gốc thực tế trong năm 2016 lớn hơn 4%, điều chỉnh giảm tỷ lệ sử dụng biệt dược gốc không quá 4% tổng chi phí thuốc, các bệnh viện có tỷ lệ sử dụng biệt dược gốc nhỏ hơn 4% tổng chi thuốc, giữ nguyên tỷ lệ sử dụng như năm 2016. Cũng tại văn bản này, BHXH Việt Nam đề xuất không sử dụng biệt dược gốc tại các cơ sở khám chữa bệnh hạng 4, trạm y tế xã, các cơ sở khám chữa bệnh không phân hạng. - Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” ban hành kèm theo quyết định số 4824/QĐ- BYT ngày 03/12/2012 với mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước chiếm 22% ở tuyến trung ương, 50% ở tuyến tỉnh và 75% tại tuyến huyện.

Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc 1. Phương pháp phân tích theo nhóm điều trị Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị. Ý nghĩa: Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông 4 tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý.

Xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao. Phương pháp phân tích ABC  Khái niệm phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi phí dành cho mua thuốc bệnh viện [9]. Về số lượng thông thường Nhóm A chiếm 10 -20% tổng số sản phẩm, nhóm B chiếm 10 -20% và còn lại là nhóm C chiếm 60 -80%.

 Vai trò và ý nghĩa phân tích ABC: Phân tích ABC tạo ra cơ sở đưa ra những quyết định quan trọng trong tồn trữ, mua sắm trong lựa chọn nhà cung cấp. - Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà chỉ có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường, được sử dụng để + Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn. + Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế. Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật.

- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện. - Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn, cũng có thể áp dụng cho một đợt thầu hoặc nhiều đợt thầu. 5 - Cũng có thể được sử dụng để đánh giá một phác độ điều trị khi tất cả các thuốc sử dụng có hiệu quả tương đương. - Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt là thuốc hạng A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền.

Trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu quả tương đương nhưng rẻ hơn. Tóm lại, phân tích ABC có ưu điểm chính giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào. Tuy nhiên nhược điểm của phân tích ABC: không cung cấp được đầy đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau. Phương pháp phân tích VEN[9] Khái niệm: Là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn.

Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia loại 3 nhóm cụ thể như sau: + Thuốc V (Vital drugs) - Là thuốc sống còn dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. + Thuốc E (Essential drugs) - Là thuốc thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ