ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả trong điều kiện nguồn thuốc cung ứng phong phú, đa dạng, nhiều chủng loại; tình trạng kháng thuốc gia tăng và khả năng chi trả có hạn của người dân là một thách thức lớn đối với các cơ sở khám, chữa bệnh hiện nay. Một số bất cập trong sử dụng thuốc đã được ghi nhận tại bệnh viện ở Việt Nam như thuốc không thiết yếu được sử dụng với số lượng và giá trị cao, lạm dụng kháng sinh, vitamin[19]. Sử dụng thuốc không hợp lý không chỉ ảnh hưởng tới công tác chăm sóc, khám chữa bệnh mà còn là nguyên nhân làm tăng chi phí đáng kể cho người bệnh, quỹ Bảo hiểm y tế, tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế, xã hội. Để khắc phục tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo các bệnh viện cần thành lập Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT), đây là diễn đàn chung cho các bên liên quan cùng hợp tác nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, an toàn và hợp lý trong sử dụng thuốc nói riêng và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh nói chung.
Tại Việt Nam, HĐT& ĐT của bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong hoạt động lựa chọn, xây dựng, quản lý danh mục thuốc, đem lại lợi ích lớn trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc y tế. Chính vì vậy, hoạt động rà soát danh mục thuốc thường xuyên là một công việc không thể thiếu trong công tác quản lý danh mục thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh hàng năm. Trung tâm Y tế Huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum là Trung tâm Y tế hai chức năng tương đương bệnh viện hạng III trực thuộc Sở Y tế tỉnh Kon Tum. Trong những năm gần đây việc xây dựng danh mục thuốc được quan tâm, chỉ đạo nhằm tăng cường sử dụng thuốc hiệu quả, hợp lý, an toàn.
Tuy nhiên công tác cung ứng, quản lý sử dụng thuốc còn gặp nhiều khó khăn, việc lựa chọn xây dựng danh mục thuốc phần lớn dựa vào kinh nghiệm, thói quen điều trị của Bác sỹ, chưa có nhiều cập nhật lựa chọn thuốc mới. Trong các hoạt động cung cấp dịch vụ y tế có hoạt động mua sắm thuốc. Hoạt động này được tiến hành hàng năm nhằm đảm bảo đầy đủ nguồn thuốc cung cấp cho nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại TTYT chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu về phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại TTYT.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của cơ sở, chính vì vậy, đề tài: “Phân 1 tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2021” được thực hiện với 2 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2021. Phân tích Danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2021 bằng phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Từ đó, đưa ra được các ý kiến đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng danh mục thuốc và tăng cường chất lượng sử dụng thuốc tại Trung tâm tốt hơn.
Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện và xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện 1. Các bước xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện Theo thông tư 21/2013/TT-BYT, các bước xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện được hướng dẫn như sau: Bước 1: Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC/VEN [4] nhằm xác định phần lớn ngân sách tập trung vào những thuốc nào và phát hiện các vấn đề trong sử dụng thuốc. Đồng thời, tiến hành thu thập thông tin về thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị trên các nguồn thông tin đáng tin cậy; Bước 2: Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan; Bước 3: Xây dựng DMT và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và phân loại VEN; Bước 4: Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần. Các tiêu chí lựa chọn thuốc Việc lựa chọn thuốc đưa vào DMT bệnh viện phải dựa trên những tiêu chí cụ thể do HĐT&ĐT xây dựng.
Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế đưa ra 7 tiêu chí lựa chọn thuốc bao gồm [4]: a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng. b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp đảm bảo sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định. c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về tiêu chí thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ thuật các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng. d) Đối với thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác nhau về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn thuốc cần phân tích chi phí, hiệu quả giữa các thuốc 3 với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính đơn vị của từng thuốc.
đ) Ưu tiên lựa chọn thuốc đơn chất, đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có thể vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất. e) Ưu tiên lựa chọn thuốc Generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược (BDG) hoặc nhà sản xuất cụ thể. Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc Theo tổ chức Y tế thế giới, có 3 phương pháp chính để làm rõ các vấn đề sử dụng thuốc tại bệnh viện mà HĐT&ĐT nên thường xuyên sử dụng, đó là: - Thu thập thông tin ở mức độ cá thể: những dữ liệu này được thu thập từ người không kê đơn để có thể xác định được những vấn đề xung quanh liên quan đến sử dụng thuốc.
Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là thường không có đủ thông tin để có thể điều chỉnh thuốc sử dụng phù hợp với chẩn đoán. - Các phương pháp định tính: như tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu vấn đề và bộ câu hỏi sẽ là những công cụ hữu ích để xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc. - Các phương pháp tổng hợp dữ liệu: phương pháp này liên quan đến các dữ liệu tổng hợp mà không phải trên từng cá thể, và dữ liệu có thể thu thập dễ dàng. Phương pháp xác định liều DDD, phân tích ABC và phân tích VEN…Những phương pháp này sẽ được sử dụng để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc.
Trong số các phương pháp trên, phân tích danh mục thuốc gồm phân tích ABC và phân tích VEN là giải pháp hữu ích và cần được áp dụng để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc. Phương pháp phân tích này sẽ trở thành công cụ cho HĐT&ĐT quản lý danh mục thuốc [2][4]. 4 Để phân tích DMT được sử dụng tại bệnh viện thường sử dụng các phương pháp sau: 1. Phương pháp phân tích nhóm điều trị a) Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [4].
b) Vai trò và ý nghĩa + Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất. + Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật (MHBT), xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện. + Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế [4]. + Riêng đối với nhóm thuốc kháng sinh, từ năm 2019 TCYTTG đã đưa ra công cụ phân loại “AwaRe” nhằm kiểm soát sử dụng kháng sinh, giảm sự lây lan của đề kháng kháng sinh với những hậu quả bất lợi cho sức khỏe và giảm chi phí.
“AwaRe” phân loại kháng sinh thành ba nhóm – Tiếp cận (Access), Theo dõi (Watch) và Dự trữ (Reserve). Nhóm tiếp cận (Access) – là kháng sinh thuộc có hệ thống các bằng chứng có sẵn, an toàn và không làm nặng thêm tình trạng kháng thuốc. Tất cả các kháng sinh thuộc nhóm Access là một phần của danh sách thuốc thiết yếu (EML), có nghĩa là các kháng sinh này nên có sẵn rộng rãi trong tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh và vẫn phải nỗ lực để đảm bảo sử dụng phù hợp. Nhiều kháng sinh nhóm penicillin thuộc về nhóm này.
Nhóm theo dõi (Watch) – là kháng sinh có nguy cơ cao tác động tiêu cực đến tình trạng kháng thuốc. Một số kháng sinh nhóm Watch cũng được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu vì chúng là lựa chọn hiệu quả nhất cho một số các hội chứng lâm sàng được xác định rõ, nhưng việc sử dụng chúng phải được theo dõi chặt chẽ và chỉ định hạn chế Fluoroquinolones, nhóm Watch và chủ nên sử dụng khi không còn lựa chọn thứ nhất hoặc thứ hai. Nhóm tình trạng kháng thuốc. Một số kháng sinh nhóm Watch cũng được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu vì chúng là lựa chọn hiệu quả nhất cho một số các hội 5 chứng lâm sàng được xác định rõ, nhưng việc sử dụnêm được, nên được sử dụng một cách tiết kiệm nhất có thể.
Với phân nhóm kháng sinh theo Aware của TCYTTG nhằm tăng tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh toàn cầu trong nhóm Access lên ít nhất 60% và giảm sử dụng kháng sinh có nguy cơ kháng thuốc cao nhất từ các nhóm Watch và Reserve. Sử dụng kháng sinh nhóm Access làm giảm nguy cơ kháng thuốc vì chúng là kháng sinh nhóm phổ diện hẹp (nhắm vào một loại vi khuẩn cụ thể chứ không phải một số loại vi khuẩn). Chúng cũng ít tốn kém hơn vì chúng có sẵn trong nhóm generic [33]. Ý nghĩa: Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất.