ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là loại hàng hóa đặc biệt và không thể thiếu để phục vụ công tác khám chữa bệnh của các cơ sở Y tế. Sử dụng thuốc đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng và nâng cao sức khỏe cho người. Trong những năm gần đây, nhu cầu về dược phẩm trong nước ngày càng lớn do quá trình tăng dân số và thu nhập bình quân đầu người tăng, kéo theo nhu cầu chăm sóc y tế cũng như chi tiêu cho thuốc ngày càng nhiều. Chi tiêu bình quân đầu người dành cho thuốc tăng từ 22,25 USD năm 2010 lên 37,87 USD năm 2015, mức tăng trưởng trung bình đạt 14,6% trong giai đoạn 2010-2015, năm 2017 đạt khoảng 56 USD và dự báo con số này sẽ còn tăng lên với mức tăng ít nhất 14%/năm cho tới năm 2025 [18].
Cùng với sự gia tăng về nhu cầu dược phẩm, thị trường thuốc hiện nay cũng phát triển phong phú, đa dạng về cả chủng loại lẫn nhà cung cấp. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng thuốc dễ dàng và có nhiều sự lựa chọn tuy nhiên nó cũng gây ra một thách thức lớn trong việc lựa chọn và sử dụng thuốc.Tình trạng lạm dụng thuốc và bất hợp lý trong việc lựa chọn và sử dụng ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh, tạo gánh nặng tài chính cho gia đình người bệnh và gây khó khăn cho khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế. Theo BHXH Việt Nam, hiện nay tỉ lệ chi thuốc trên tổng chi khám chữa bệnh (KCB) nói chung và KCB BHYT đều cao hơn các nước khác. Cụ thể, tổng chi cho thuốc từ quỹ BHYT năm 2015 khoảng 25.000 tỷ đồng (chiếm 47% tổng chi phí); năm 2016 là trên 32.000 tỷ đồng (43%) và 6 tháng đầu năm 2017 là khoảng 17.
Bệnh viện Ung bướu Bắc Giang là bệnh viện chuyên khoa hạng II của tỉnh Bắc Giang với quy mô 200 giường bệnh, với nhiệm vụ khám, phát hiện, sàng lọc quản lý bệnh nhân ung bướu; cấp cứu và điều trị bệnh nhân ung bướu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và các tỉnh lân cận. Với diễn biến bệnh tật ngày càng phức tạp, số bệnh nhân gia tăng nhưng nguồn ngân sách nhà nước, BHYT hạn hẹp và bệnh viện đang trong quá trình thực 1 hiện tự chủ về tài chính. Do vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài: ˝ Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Ung bướu Bắc Giang năm 2020” với mục tiêu sau: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Ung Bướu Bắc Giang năm 2020.
Phân tích danh mục thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện Ung Bướu Bắc Giang năm 2020 theo phương pháp ABC/VEN. Từ đó đề xuất một số giải pháp xây dựng danh mục thuốc hợp lý và sử dụng thuốc có hiệu quả phục vụ bệnh nhân tại Bệnh viện Ung bướu Bắc Giang trong những năm tiếp theo.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỬ DỤNG THUỐC: 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh. Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý [17].
DMT sử dụng trong bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. DMT bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong các kỳ họp của Hội đồng thuốc và điều trị [5]. Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; - Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. Tiêu chí lựa chọn thuốc để đưa vào danh mục thuốc bệnh viện - Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng.
- Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; - Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí thì phải lựa 3 chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; - Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; - Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; - Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể. - Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng; 1. Một số nội dung liên quan về Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Ngày 10/01/2014 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trong đó chỉ rõ một số mục tiêu liên quan đến sử dụng thuốc như sau: Xây dựng nền công nghiệp dược, trong đó tập trung đầu tư phát triển sản xuất thuốc generic bảo đảm chất lượng, giá hợp lý, từng bước thay thế thuốc nhập khẩu; phát triển công nghiệp hóa dược, phát huy thế mạnh, tiềm năng của Việt Nam để phát triển sản xuất vắc xin, thuốc từ dược liệu.
Phấn đấu sản xuất được 20% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước, thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm 30%; vắc xin sản xuất trong nước đáp ứng 100% nhu cầu cho tiêm chủng mở rộng và 30% nhu cầu cho tiêm chủng dịch vụ. 4 Phấn đấu có 40% thuốc generic sản xuất trong nước và nhập khẩu có số đăng ký lưu hành được đánh giá tương đương sinh học và sinh khả dụng [16]. Một số phương pháp phân tích được áp dụng để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc Theo hướng dẫn tại Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện. Bộ Y tế đề cập đến các phương pháp phân tích tình hình sử dụng thuốc và khuyến cáo Hội đồng cần áp dụng ít nhất một trong các phương pháp sau để phân tích việc sử dụng thuốc tại đơn vị: a) Phân tích ABC b) Phân tích nhóm điều trị c) Phân tích VEN d) Phân tích theo liều xác định trong ngày - DDD đ) Giám sát các chỉ số sử dụng thuốc Hội đồng cần xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp theo hướng dẫn kèm theo Thông tư này [7].
Các phương pháp phân tích được áp dụng để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc gồm có: 1. Phương pháp phân tích ABC a. Khái niệm Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [7]. Phân tích ABC được biết như “luôn luôn kiểm soát tốt hơn”, là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa”.
Phân tích ABC được thực hiện dựa trên nguyên lý PARETO (80/20) b. Mục đích của phân tích ABC - Phân tích ABC tạo cơ sở đưa ra những quyết định quan trọng: + Trong tồn trữ 5 + Trong mua sắm hàng hóa + Trong lựa chọn nhà cung ứng - Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. - Thông tin này sẽ được sử dụng để: + Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn. + Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế.
+ Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn. - Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật. - Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện. Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt trong nhóm hạng A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng có giá thành rẻ hơn.
Phương pháp phân tích VEN a. Khái niệm: Đôi khi nguồn kinh phí không đủ để mua tất cả các loại thuốc như mong muốn. Phân tích VEN là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện. Các thuốc được phân chia tùy theo tác dụng thành các hạng mục: tối cần thiết, thiết yếu và không thiết yếu.