ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh viện được định nghĩa là một bộ phận củamột tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh. Thuốc là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa bệnh và điều trị bệnh trong bệnh viện. Việc cung ứng thuốc hợp lý, hiệu quả giúp đảm bảo được phần nào vấn đề này. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp Dược tại Việt Nam những năm gần đây, các nhà cung ứng thuốc tại khoa Dược bệnh viện có nhiềulựa chọn hơn về các mặt hàng thuốc khi xây dựng danh mục thuốc bệnh viện.
Bài toán về tự chủ bệnh viện cũng như kinh tế - y tế cũng đặt ra đòi hỏi việc cung ứng thuốc phải đảm bảo được hiệu quả điều trị nhưng vẫn xét đến tính hợp lý và kinh tế khi sử dụng. Chính vì vậy, một danh mục thuốc hợp lý sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho việc cung ứngthuốc. Trong lĩnh vực cung ứng, nó giúp cho việc mua sắm dễ dàng hơn, đảm bảo thuốc có chất lượng, giá cả phù hợp. Để phản ánh hiệu quả của việc xây dựng danh mục thuốc và hoạt động mua sắm cũng như có cái nhìn tổng thể về việc sử dụng thuốc tại Bệnh viện, cần tiến hành phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng trong mộtkhoảng thời gian nhất định.
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hưng Yên là Bệnh viện tuyến tỉnh, hạng II với quy mô hơn 250 giường bệnh, có nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân với chuyên khoa sản và nhi. Năm 2020 đã có 1 đề tài chuyên khoa 1 phân tích danh mục thuốc đã sử dụng năm 2019 tại Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên và chỉ ra những vấn đề bất cập cũng như đề xuất một số điều chỉnh để áp dụng cho xây dựng danh mục thuốc năm 2020. Căn cứ vào đó, với mục đích đánh giá lại tính hợp lý của danh mục thuốcđã sử dụng năm 2020 cũng như hiệu quả các phương pháp điều chỉnh đã đề xuất trong đề tài nêu trên, tôi tiến hành đề tài: “Phân tích danh mục thuốc đã sử 1 dụng tại bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hưng Yên năm 2020” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng năm 2020 tại Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Hưng Yên.
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Hưng Yên năm 2020 theo phương pháp phân tích ABC, VEN và phân tích ma trận ABC/VEN. Danh mục thuốc và xây dựng danh mục thuốc 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc là 1 danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và bác sĩ kê đơn các thuốc trong danh mục này [1] [2]. Danh mục thuốc bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện.
Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc Các nguyên tắc xây dựng DMT dùng trong bệnh viện được Bộ Y tế quy định tại thông tư 21/2013/TT-BYT như sau [5]: a) Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; b) Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; c) Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc các phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện; d) Đáp ứng các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; e) Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; f) Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ y tế ban hành; g) Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. Các tiêu chí lựa chọn thuốc Việc lựa chọn danh mục thuốc trong bệnh viện phải dựa trên những tiêu chí cụ thể do HĐT&ĐT xây dựng. Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế đưa ra 7 tiêu chí lựa chọn thuốc bao gồm [5]: a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng; b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; d) Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; đ) Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; e) Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể; f) Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng.2 Một số văn bản pháp luật liên quan đến danh mục thuốc và sử dụng thuốc trong bệnh viện Luật Dược số 105/2016/QH13 của Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 06/4/2016.
Trong Luật Dược có một số điều qui định sử dụng thuốc sản xuất trong nước thay thể thuốc nhập khẩu. Cụ thể: - Điều 7 quy định một số chính sách nhà nước về dược bao gồm: đối với việc đấu thầu thuốc: không chào thuốc nhập khẩu thuộc danh mục do BYT ban hành trên cơ sở nhóm tiêu chí kĩ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp, ưu tiên mua thuốc generic [3]. Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của Khoa Dược Bệnh viện [4]. Cụ thể về công tác cung ứng, bảo quản và quản 4 lý sử dụng thuốc được quy định trong chương III.
Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/11/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh, cụ thể liên quan đến ưu tiên sử dụng thuốc đường uống, chỉ sử dụng đường tiêm truyền khi bệnh nhân không uống được hoặc sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được điều trị. Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện [5]. Thông tư đưa ra hướng dẫn và các tiêu chí để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện. Ngay trong phần nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc đã đưa ra nguyên tắc “ưu tiên thuốc sản xuất trong nước”.
Tiêu chí lựa chọn thuốc: a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng. Mức độ tin cậy của các bằng chứng được thể hiện tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư; b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; d) Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; đ) Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; 5 e) Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể. g) Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng; Thông tư đồng thời đưa ra định nghĩa và hướng dẫn thực hiện phân tích danh mục thuốc theo ABC, VEN trong phụ lục 2 kèm theo thông tư.
Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [15]. Thông tư số 03/2019/TT-BYT ngày 28/ 3/2019 của Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp [9]. Quyết định số 4043/QĐ-BYT điều chỉnh thông tin trên danh mục thuốc kèm theo thông tư 03/2019/TT-BYT. Thông tư số 20/2017/TT-BYT ngày 10/5/2017 của Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của luật dược và nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2017 của chính phủ về thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt [16].
Công văn số 3794/BHXH-DVT của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thống nhất tỷ lệ sử dụng Biệt Dược gốc tại các tuyến điều trị theo chỉ đạo của Chính phủ năm 2018. [13] Công văn thống nhất về tỉ lệ sử dụng thuốc BDG tại các bệnh viện tuyến tỉnh tối đa chiếm 5% tổng chi thuốc. Thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị về việc tổ chức của cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tại Thông báo 264-TB/TW ngày 31/7/2009, Bộ Y tế đã bám sát mục đích, thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp cơ bản. Ngày 8/7/2019, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị Tổng kết đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”.