ĐẶT VẤN ĐỀ Cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng giữ vai trò quan trọng, mang tính quyết định đến chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân. Việc lựa chọn thuốc đóng vai trò rất quan trọng để người bệnh được tiếp cận với thuốc có chất lượng tốt, hiệu quả điều trị cao và tiết kiệm chi phí. Theo một số nghiên cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30-40% ngân sách ngành Y tế của nhiều quốc gia và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [25]. Tại các nước đang phát triển, 30%-60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nửa số ca viêm đường hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý [26].
Ở nước ta, với những chính sách mở cửa của cơ chế thị trường và đa dạng hóa các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú về số lượng, chủng loại và cả nhà cung cấp. Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh cũng như tình trạng lạm dụng thuốc. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định là một bệnh viện hạng I, chịu sự quản lý của Sở Y tế Nam Định, sự quản lý nhà nước của UBND tỉnh Nam Định.
Với quy mô và chức năng nhiệm vụ của bệnh viện hạng I, cùng với những thách thức và tồn tại trong hoạt động cung ứng, kê đơn và sử dụng thuốc, đánh giá việc sử dụng thuốc một cách thường xuyên là hết sức cần thiết giúp sử dụng thuốc hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm chi phí hơn trong giai đoạn tự chủ này. Trong những năm gần đây, chi phí sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định ngày một tăng do lưu lượng bệnh nhân đến với bệnh 1 viện tăng. Với mô hình bệnh tật đa dạng, bệnh viện có một danh mục thuốc với nhiều nhóm tác dụng dược lý và biệt dược khác nhau. Khoa dược của bệnh viện đã tiến hành phân tích ABC/VEN danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viên năm 2018.
Phân tích đã chỉ ra nhiều hạn chế trong danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện, tuy nhiên công tác cung ứng thuốc những năm sau vẫn còn nhiều khó khăn. Do vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020. Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020 theo phương pháp ABC/ VEN.
Từ kết quả nghiên cứu đó, sẽ góp phần phản ánh được thực trạng hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định nhằm đưa ra những đề xuất góp phần tăng cường sử dụng thuốc hiệu quả nguồn ngân sách, tiết kiệm chi phí thuốc tại Bệnh viện trong giai đoạn hiện nay.Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn, phê duyệt và đã được sử dụng phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh tại bệnh viện. Việc quản lý danh mục thuốc là rất quan trọng, có ảnh hưởng tới chất lượng chăm sóc y tế. Một danh mục thuốc cần bao gồm các thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả nhất về chi phí và sẵn có với chất lượng bảo đảm đáp ứng được các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe y tế của đông đảo người bệnh. Theo quy định của Thông tư 21/2013/TT-BYT thì Hội đồng thuốc và điều trị là đơn vị có những nhiệm vụ sau[6]: 1.
Xây dựng danh mục thuốc và giám sát sử dụng thuốc trong bệnh viện. Giám sát sử dụng kháng sinh và theo dõi sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp. Xây dựng hướng dẫn điều trị. Giám sát ADR và sai sót trong điều trị.
Giám sát thông tin thuốc. Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các quy định về sử dụng DMT do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện, HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp Giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc: - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; 3 - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; - Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong các kỳ họp của HĐT&ĐT [12].Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc Để quản lý sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần có các phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc.
Các phương pháp đó bao gồm phân tích ABC, phân tích VEN, phân tích ma trận ABC-VEN, phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị. Từ đó HĐT&ĐT phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc, làm căn cứ xây dựng DMT năm tiếp theo hợp lý hơn và có các biện pháp cải tiến nâng cao chất lượng sử dụng thuốc. Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hằng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [5]. Ứng dụng của phân tích ABC Phân tích ABC là một công cụ rất hiệu quả ứng dụng trong việc lựa chọn, mua sắm, quản lý phân phối và thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý.
Trong quá trình lựa chọn thuốc có thể xem xét các thuốc nhóm A để lựa chon thuốc thay thế giá rẻ hơn có sẵn trong danh mục hoặc trên thị trường. Phân tích ABC hữu ích với các hoạt động: xác định tần suất đặt hàng, giám sát tình trạng đặt hàng, giám sát mua sắm ưu tiên, so sánh thực tế và kế hoạch của cơ sở y tế [16]. Vai trò của phân tích ABC Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đè chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật. Hạn chế: chỉ dựa trên giá trị tiền tệ và tỷ lệ tiêu thụ của mặt hàng đó.
Trong bệnh viện, một số thuốc có giá trị tiền tệ thấp và ít tiêu thụ có thể là rất quan trọng hoặc thậm chí cứu mạng sống bệnh nhân, tầm quan trọng của nó không thể bị bỏ qua đơn giản chỉ vì nó không xuất hiện trong nhóm A/B. Vì vậy phương pháp này không cung cấp đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau. Phương pháp phân tích VEN Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành[5]: - Nhóm V (Vital) là nhóm thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện; - Nhóm E (Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện; - Nhóm N (Non-Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
Ngoài ra có nhiều nghiên cứu sử dụng cách phân chia thuốc theo cách gọi khác là VED – Vital (thuốc tối cần), Essential (thuốc thiết yếu), và Desirable (thuốc có thể cần) có cách phân loại cũng tương tự VEN [16]. Ứng dụng của phân tích VEN Ứng dụng chính của phân tích VEN là chỉ ra ưu tiên cho việc lựa chọn thuốc, mua sắm thuốc và sử dụng trong hệ thống cung ứng, hướng dẫn các hoạt động quản lý hàng tồn kho và xác định giá thuốc hợp lý[16]. Các thuốc V và E nên được ưu tiên trong lựa chọn, đặc biệt khi nguồn quỹ có hạn. Phân tích danh mục VEN cũng có thể tác động lên quá trình mua sắm và lựa chọn nhà cung cấp.
Nên ưu tiên đặt hàng, dự trữ, đảm bảo đủ số lượng các thuốc V và E trước. Các bước phân tích VEN Bộ Y tế đưa ra Thông tư 21/2013 TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện hướng dẫn các bước phân tích VEN như sau [5]: 1. Từng thành viên Hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E,N 2. Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất, sau đó, Hội đồng sẽ: 3.
Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp. Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị. Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc nhóm V và E trước nhóm N và bảo đảm thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn. Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp Trung tâm khoa học quản lý y tế (MSH) đưa ra những tiêu chí để phân loại thuốc V,E, N như trong Bảng 1.