ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là một dạng hàng hóa được Chính phủ đặc biệt quan tâm bởi vì nó ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người dân. Thuốc được sử dụng nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, điều trị chức năng sinh lý của cơ thể. Sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả trong điều kiện nguồn thuốc cung ứng phong phú, đa dạng, nhiều chủng loại tránh tình trạng kháng thuốc gia tăng và khả năng chi trả có hạn của người dân là một thách thức lớn đối với các cơ sở khám, chữa bệnh hiện nay. Tình trạng kê đơn và sử dụng thuốc bất hợp lý đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Việc thực hiện quy chế xây dựng danh mục thuốc, kê đơn thuốc sử dụng trong điều trị vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại như: tình trạng lạm dụng biệt dược trong điều trị, kê đơn không phải là thuốc thiết yếu, trong đơn thuốc xuất hiện nhiều thuốc không cần thiết như các Vitamin, chế phẩm y học đông y, lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, kê quá nhiều thuốc cho một đơn thuốc, giá thuốc không kiểm soát được. Bên cạnh đó nội dung ghi hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân cũng còn sai sót và chưa đầy đủ về hàm lượng, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng, thông tin bệnh nhân chưa đầy đủ. Những bất cập này đã và đang tồn tại cần có những biện pháp khắc phục cụ thể, kịp thời hướng tới tính an toàn, hiệu quả và kinh tế trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện. Với mong muốn đánh giá thực trạng DMT sử dụng tại bệnh viện Đa khoa khu vực Long Thành, tỉnh Đồng Nai hiện nay như thế nào? Kết qủa sử dụng theo ABC/VEN có vấn đề gì cần cải thiện? Và nhằm khảo sát phân tích thực trạng thực hiện quy chế cung ứng và sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Thành, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Thành, tỉnh Đồng Nai năm 2022” với 2 mục tiêu sau: 1 1.
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Thành, tỉnh Đồng Nai năm 2022. Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Thành, tỉnh Đồng Nai năm 2022 bằng phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Tổng quan về danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc đóng vai trò quan trọng trong quản lý và cung cấp thông tin về các loại thuốc được sử dụng trong thực hành y tế.
Nó là một tài liệu chứa danh sách các loại thuốc, bao gồm thông tin chi tiết về tên chung và tên thương mại của thuốc, thành phần hoạt chất, cơ chế tác động, liều lượng khuyến nghị, cách sử dụng, tác dụng phụ, tương tác thuốc và các hạn chế sử dụng. Danh mục thuốc thường được biên soạn và duy trì bởi các tổ chức y tế hàng đầu, bao gồm các cơ quan quản lý y tế của các quốc gia, tổ chức y tế thế giới và các hãng dược phẩm. Các danh mục thuốc này thường được cập nhật định kỳ để phản ánh những thông tin mới nhất về các loại thuốc và hướng dẫn sử dụng. Danh mục thuốc Bệnh viện là danh mục bao gồm các thông tin thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt sử dụng điều trị phù hợp với Mô hình bệnh tật của Bệnh viện.
Đây là cở sở để đảm bảo Bệnh viện cung ứng thuốc chủ động, đủ khả năng phục vụ nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn và hiệu quả. Danh mục thuốc được xây dựng định kỳ hằng năm để có thể sửa đổi phù hợp với mô hình bệnh tật của Bệnh viện, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng thuốc và quản lý chi phí trong lĩnh vực y tế. Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện Các nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc trong các bệnh viện được quy định trong Thông tư 21/2013/TT-BYT như sau [1]: a) Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; b) Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; c) Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; d) Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; e) Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; 3 f) Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; g) Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện tiến hành xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện căn cứ theo khoản 3 Điều 5 Thông tư 21/2013/TT- BYT quy định về các bước xây dựng danh mục thuốc như sau [1]: Bước 1: Khoa Dược thu thập các thông tin về thuốc năm trước, bao gồm: số lượng và giá trị sử dụng, chất lượng của thuốc, thuốc hỏng, tác dụng phụ của thuốc, các sai sót trong điều trị ….
Sau đó, HĐT&ĐT họp phân tích tình hình sử dụng thuốc tại Bệnh viện. Bước 2: Đánh giá khách quan ý kiến của Bác sĩ về việc bổ sung và ngừng cung cấp thuốc; Bước 3: Xây dựng DMT và phân loại các thuốc theo nhóm điều trị; Bước 4: Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục; Bước 5: Sau đó HĐT&ĐT thống nhất danh mục, Khoa Dược sẽ tổng hợp thành danh mục dự thảo và trình lên Giám đốc Bệnh viện xem xét, ký duyệt và ban hành danh mục chính thức. Tiêu chí lựa chọn thuốc Tiêu chí lựa chọn thuốc vào danh mục thuốc trong bệnh viện được quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [1]: a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng. Mức độ tin cậy của các bằng chứng được thể hiện tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh 4 giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; d) Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; e) Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất.
Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; f) Ưu tiên lựa chọn thuốc Generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể. g) Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng. Một số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06 tháng 04 năm 2016 của Quốc Hội quy định về chính sách của Nhà nước về dược [2]. “- Thuốc hóa dược là thuốc có chứa dược chất đã được xác định thành phần, công thức, độ tinh khiết và đạt tiêu chuẩn làm thuốc bao gồm cả thuốc tiêm được chiết xuất từ dược liệu, thuốc có kết hợp dược chất với các dược liệu đã được chứng minh về tính an toàn và hiệu quả.
- Thuốc cổ truyền (bao gồm cả vị thuốc cổ truyền) là thuốc có thành phần dược liệu được chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp của y học cổ truyền hoặc theo kinh nghiệm dân gian thành chế phẩm có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại.” Thông tư số 21/2013/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 08/8/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong Bệnh viện. 5 Trong thông tư này quy định về phương pháp phân tích ABC và VEN [1]: “- Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỉ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện. - Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn.” Thông tư số 23/2011/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 10/6/2011 Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Thông tư này chỉ dẫn bệnh viện nên dùng thuốc theo đường nào [3]: “Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm” Thông tư số 30/2018/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 30/10/2018 về danh mục và tỉ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế.
Phụ lục 01 thông tư này thể hiện chi tiết danh mục thuốc hóa dược và sinh phẩm thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế theo 27 nhóm tác dụng dược lý [4]. Thông tư số 05/2015/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/3/2015 về danh mục thuốc đông y, thuốc dược liệu và vị thuốc y học đông y thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế [5]. Điều 2 văn bản có đề cập đến cấu trúc danh mục thuốc, vị thuốc. Cụ thể, danh mục thuốc được sắp xếp thành 11 nhóm theo y lý y học cổ truyền và danh mục vị thuốc bao gồm 349 vị thuốc từ cây, con, khoáng vật làm thuốc được sắp xếp thành 30 nhóm theo y lý y học cổ truyền.