ĐẶT VẤN ĐỀ Tại các cơ sở khám chữa bệnh, việc sử dụng thuốc hiệu quả, tiết kiệm chi phí là một mục tiêu quan trọng. Để thực hiện được mục tiêu này, các cơ sở khám chữa bệnh cần phải lựa chọn thuốc phù hợp bởi với việc xây dựng danh mục thuốc (DMT) hợp lý sẽ định hướng cho sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và kinh tế tại cơ sở. Theo Tổ chức Y tế thế giới, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30 - 40% ngân sách y tế của nhiều quốc gia và phần lớn trong số đó cần được sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn. Tại Việt Nam, tỷ lệ chi tiêu cho thuốc trong tổng chi tiêu y tế trung bình là 33% [1].
Bên cạnh đó, thị trường dược phẩm Việt Nam trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, đa dạng về chủng loại để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Theo thống kê của Cục Quản lý Dược, hiện có khoảng 23.500 thuốc được cấp phép lưu hành còn hiệu lực [2]. Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong các cơ sở khám chữa bệnh thuận lợi hơn, nhưng cũng là thách thức trong việc lựa chọn thuốc để xây dựng danh mục thuốc phù hợp phục vụ nhu cầu điều trị tại bệnh viện, nhu cầu thực tiễn của địa phương cũng như tiết kiệm nguồn ngân sách quĩ của nhà nước. Nhằm quản lý sử dụng thuốc hiệu quả tại các cơ sở khám chữa bệnh, Bộ Y tế đã quy định tổ chức và hoạt động Hội thuốc và điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh.
Là 1 bệnh viện hạng III với 150 giường bệnh, Trung tâm y tế huyện EaHleo đã thành lập Hội đồng thuốc và điều trị với chức năng tư vấn cho Ban Giám đốc Trung tâm Y tế về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của Trung tâm, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc. Trong đó, việc lựa chọn xây dựng danh mục thuốc là một bước then chốt có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả của việc cung ứng thuốc tại Trung tâm Y tế nói chung và sử dụng thuốc hợp lý nói riêng. Nhằm xây dựng được danh mục thuốc của Trung tâm Y tế phù hợp cần định kỳ phân tích danh mục thuốc đã sử dụng để từ đó xác định được cơ cấu các thuốc đã sử dụng, mức độ sử dụng các thuốc từ đó có thể phát hiện được một số tồn tại trong sử dụng thuốc, cân đối chi phí thuốc tránh lãng phí không cần thiết. Theo rà soát y văn cho thấy chưa có nghiên cứu phân tích danh mục thuốc sử dụng được thực hiện tại Trung tâm.
Câu hỏi đặt ra là cơ cấu các thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Ea H’leo như thế nào? Chi phí các thuốc đã sử dụng ra sao? Nhằm 1 trả lời câu hỏi trên, nghiên cứu: “Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Ea H’leo – Tỉnh Đắk Lắk năm 2022” được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Ea H’leo – Tỉnh Đắk Lắk năm 2022. Phân tích danh mục thuốc tại Trung tâm Y tế huyện Ea H’leo – Tỉnh Đắk Lắk năm 2022 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Từ đó đưa ra ý kiến đề xuất giúp Trung tâm Y tế quản lý, sử dụng thuốc hợp lý hơn và rút ra kinh nghiệm để xây dựng DMT cho các năm kế tiếp.
Trên cơ sở đó, xây dựng, lựa chọn được Danh mục thuốc có hợp lý, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm được chi phí góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công tác khám chữa bệnh tại Trung tâm Y tế. Tổng quan về danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện và trung tâm y tế, có vai trò rất quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện và trung tâm y tế, được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu của Việt Nam và WHO hiện hành, đảm bảo mục tiêu: sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu điều trị của người bệnh, đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia bảo hiểm y tế và phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm Y tế [13]. Danh mục thuốc sử dụng là kết quả của các hoạt động trong chu trình cung ứng thuốc - một chu trình khép kín gồm 4 hoạt động chính là chẩn đoán, kê đơn, cấp phát và tuân thủ điều trị.
Cả 4 hoạt động nói trên đều có vai trò quan trọng, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, hoạt động trước là tiền đề cho hoạt động sau phát triển. Đảm bảo hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện và trung tâm y tế là triển khai thực hiện tốt bốn khâu trên của chu trình sử dụng thuốc [5]. Vai trò của danh mục thuốc bệnh viện DMT của Trung tâm y tế là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn. DMT được xây dựng định kỳ hàng năm.
HĐT & ĐT có trách nhiệm xem xét danh mục thuốc của Trung tâm để điều chỉnh phù hợp với sự biến động của mô hình bệnh tật, phác đồ điều trị cũng như các quy định pháp luật có liên quan. Việc xây dựng DMT phù hợp mang lại nhiều lợi ích như sau: - Loại bỏ được thuốc không an toàn, kém hiệu quả từ đó có thể giảm được số ngày nằm viện đồng thời giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong. - Giảm được chi phí mua thuốc và sử dụng tiết kiệm chi phí để dành ngân sách mua các thuốc có chất lượng tốt, an toàn và hiệu quả hơn. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nội dung nghiên cứu 1.
Thông tư 20/2022/TT-BYT ngày 31/12/2022 của Bộ Y tế Ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia 3 bảo hiểm y tế. Ban hành kèm theo Thông tư này kèm theo danh mục thuốc hóa dược và sinh phẩm thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế gồm: 1030 hoạt chất; 59 thuốc phóng xạ và chất chất đánh dấu. Danh mục thuốc hóa dược ban hành kèm theo Thông tư này là cơ sở để quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí thuốc sử dụng cho người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Các thuốc hay hoạt chất được sắp xếp theo 27 nhóm lớn, theo mã ATC (giải phẫu, điều trị, hóa học).
Một số thuốc hay hoạt chất có nhiều mã ATC, nhiều chỉ định khác nhau được xếp vào một nhóm phù hợp nhất để hạn chế sự trùng lặp. Tên thuốc được ghi theo tên hoạt chất theo danh pháp INN [14]. Danh mục thuốc hóa dược và sinh phẩm được sắp xếp vào 27 nhóm lớn theo tác dụng điều trị, được phân thành 8 cột, cụ thể như sau: - Cột 1: Ghi số thứ tự của thuốc có trong Danh mục; - Cột 2: Ghi tên thuốc. Tên thuốc được ghi theo tên hoạt chất theo danh pháp INN (International Non-propertied Name).
Trường hợp không có tên theo danh pháp INN thì ghi theo tên hoạt chất được cấp phép lưu hành. Các thuốc được sắp xếp theo 27 nhóm lớn, theo mã ATC (giải phẫu, điều trị, hóa học); - Cột 3: Ghi đường dùng, dạng dùng của thuốc; không ghi hàm lượng, không ghi cụ thể dạng bào chế trừ một số dạng bào chế có sự khác biệt rõ ràng về hiệu lực, tác dụng điều trị. Đường dùng thuốc trong Danh mục tại Phụ lục 01 được thống nhất như sau: + Đường uống bao gồm các thuốc uống, ngậm, nhai, đặt dưới lưỡi; + Đường tiêm bao gồm các thuốc tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm trong da, tiêm tĩnh mạch, tiêm truyền, tiêm vào ổ khớp, tiêm nội nhãn cầu, tiêm trong dịch kính của mắt, tiêm vào các khoang của cơ thể; + Đường dùng ngoài bao gồm các thuốc bôi, xoa ngoài, dán ngoài da, xịt ngoài da, thuốc rửa; + Đường đặt bao gồm các thuốc đặt âm đạo, đặt hậu môn, thụt hậu môn/trực tràng; + Đường hô hấp bao gồm các thuốc phun mù, dạng hít (dung dịch, hỗn dịch, bột dùng để hít), khí dung; 4 + Đường nhỏ mắt bao gồm các thuốc nhỏ mắt, tra mắt; đường nhỏ tai bao gồm các thuốc nhỏ tai; đường nhỏ mũi bao gồm thuốc nhỏ mũi, xịt mũi; + Đường dùng, dạng dùng khác được ghi cụ thể trong Danh mục đối với một số thuốc có dạng dùng đặc biệt, khác với các dạng dùng nêu trên; - Cột 4, 5, 6, 7: Ghi hạng Bệnh viện được sử dụng.