ĐẶT VẤN ĐỀ Tại Việt Nam, nhu cầu của người dân đối với chăm sóc sức khỏe ngày càng cao do đó tiêu thụ thuốc bình quân đầu người cũng có xu hướng gia tăng. Việc sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh và tăng khả năng kháng thuốc trong quá trình điều trị. Theo một số nghiên cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30- 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [1]. Trước thực trạng trên, ngày 08 tháng 8 năm 2013 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện.
Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện. Hội đồng thuốc điều trị là diễn đàn chung cho các bên liên quan cùng hợp tác nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, an toàn và hợp lý tron/g sử dụng thuốc nói riêng và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh nói chung. Tại Việt Nam, HĐT& ĐT của bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong hoạt động lựa chọn, xây dựng, quản lý danh mục thuốc, đem lại lợi ích lớn trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc y tế. Chính vì vậy, hoạt động rà soát danh mục thuốc thường xuyên là một công việc không thể thiếu trong công tác quản lý danh mục thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh hàng năm [2].
Trung tâm Y tế huyện Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk được thành lập theo quyết định số 1916/QĐ-UBND ngày 19/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, là bệnh viện công lập hạng III với quy mô 190 giường. Trung tâm gồm 14 khoa phòng, 7 trạm y tế trên toàn huyện Buôn Đôn.390 lượt người đến khám chữa bệnh. Tổng chi phí khám chữa bệnh năm 2022 khoảng 22 tỷ đồng, trong đó chi phí sử dụng thuốc hơn 10,1 tỷ đồng chiếm khoảng 46%. Vậy cơ cấu thuốc đã sử dụng tại trung tâm năm 2022 như thế nào? Liệu có 1 tình trạng lạm dụng các kháng sinh, thuốc nhập khẩu, biệt dược gốc hoặc kinh phí thuốc tập trung ở các thuốc không thiết yếu không? Theo rà soát y văn cho thấy, đến nay chưa có nghiên cứu danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế huyện Buôn Đôn.
Chính vì vậy, đề tài “Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk năm 2022” được thực hiện với 2 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk năm 2022. Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk năm 2022 theo phương pháp ABC,VEN và ma trận ABC/VEN. Để từ các kết quả của nghiên cứu này phát hiện ra các vấn đề tồn tại của danh mục thuốc đã sử dụng, Từ đó đưa ra ý kiến đề xuất giúp quản lý, sử dụng thuốc hợp lý hơn và rút ra kinh nghiệm để xây dựng danh mục thuốc cho các năm kế tiếp, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công tác khám chữa bệnh tại Trung tâm.
Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc (DMT) là một danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc trong danh mục này. DMT của bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện [3], [4]. Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) có nhiệm vụ giúp Giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện theo thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định tổ chức hoạt động của HĐT&ĐT.
Một số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. Bộ Y tế đã có nhiều văn bản quy định nhằm cải thiện chất lượng quản lý, sử dụng danh mục thuốc nói chung. - Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 của Quốc Hội[6]. - Nghị định số 131/2020/NĐ-CP ngày 02/11/2020 của Chính Phủ[7].
- Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ Y tế [8]. - Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 06 năm 2011 của Bộ Y tế [9]. - Thông tư số 31/2012/TT-BYT ngày 20/12/2012 của Bộ Y tế [10]. - Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế [11].
- Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/03/2015 của Bộ Y tế[12]. - Thông tư số 19/2018/TT-BYT ngày 30/08/2018 của Bộ Y tế [13]. - Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ Y tế[14]. - Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 của Bộ Y tế[15].
Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc Theo tổ chức Y tế thế giới, có 3 phương pháp chính để làm rõ các vấn đề sử 3 dụng thuốc tại bệnh viện mà HĐT&ĐT nên thường xuyên sử dụng, đó là: Thu thập thông tin ở mức độ cá thể: những dữ liệu này được thu thập từ người không kê đơn để có thể xác định được những vấn đề xung quanh liên quan đến sử dụng thuốc. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là thường không có đủ thông tin để có thể điều chỉnh thuốc sử dụng phù hợp với chẩn đoán. Các phương pháp định tính: như tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu vấn đề và bộ câu hỏi sẽ là những công cụ hữu ích để xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc. Các phương pháp tổng hợp dữ liệu: phương pháp này liên quan đến các dữ liệu tổng hợp mà không phải trên từng cá thể, và dữ liệu có thể thu thập dễ dàng.
Phương pháp xác định liều DDD, phân tích ABC và phân tích VEN…Những phương pháp này sẽ được sử dụng để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc. Để phân tích DMT được sử dụng tại bệnh viện thường sử dụng các phương pháp sau: 1. Phương pháp phân tích nhóm điều trị a) Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [5]. b) Vai trò và ý nghĩa + Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất.
+ Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật (MHBT), xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện. + Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế [5]. Ý nghĩa: Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý.
Xác định 4 những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất huyết. Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. Phương pháp phân tích ABC a) Khái niệm phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi phí dành cho mua thuốc bệnh viện [5]. b) Vai trò và ý nghĩa phân tích ABC: Phân tích ABC tạo ra cơ sở đưa ra những quyết định quan trọng trong tồn trữ, mua sắm, lựa chọn nhà cung cấp.
Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà chỉ có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường, được sử dụng để: + Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn + Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế + Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những bất cập, chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật (ICD). + Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện. Tóm lại, phân tích ABC có ưu điểm chính giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào. Tuy nhiên, nhược điểm của phân tích ABC: Không cung cấp được đầy đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau.
Phương pháp phân tích VEN Khái niệm: Là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các 5 loại thuốc như mong muốn [5]. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 03 nhóm cụ thể sau: + Thuốc V (Vital drugs): Là thuốc sống còn dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. + Thuốc E (Essential drugs): Là thuốc thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện. + Thuốc N (Non-Essential drugs): Là thuốc không thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
Tiêu chuẩn phân loại thuốc trong phân tích VEN của WHO [16] Đặc tính của thuốc Thuốc V Thuốc E Thuốc N Mức độ nặng của bệnh Đe dọa sự sống (+) Thỉnh thoảng Hiếm Hiệu quả điều trị của thuốc Dự phòng bệnh nặng (+) (-) (-) Điều trị bệnh nặng (+) (+) (-) Điều trị triệu chứng hay bệnh nhẹ có (-) (+/-) (+) thể tự khỏi Đã được chứng minh hiệu quả Luôn luôn Thường Có thể Chứng minh không hiệu quả Không Hiếm Có thể bao giờ Ý nghĩa của phân tích VEN: Phương pháp phân tích VEN giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên, lựa chọn mua thuốc và sử dụng trong hệ thống, quản lý hàng tồn kho và xác định sử dụng thuốc với giá cả phù hợp cụ 6 thể. - Việc lựa chọn thuốc: Các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa chọn.