ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe người bệnh, đồng thời là đơn vị khoa học có nghiệp vụ cao về y tế, trong đó thuốc có vai trò trong công tác phòng và chữa bệnh. Tuy nhiên hiện nay, có thể một phần do vấn đề sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh và tăng khả năng kháng thuốc trong quá trình điều trị. Do đó, việc xây dựng được một danh mục thuốc và sử dụng thuốc hợp lý trong điều trị đóng một vai trò hết sức quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, tiết kiệm chi phí, phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh. Danh mục thuốc (DMT) bệnh viện là cơ sở để tiến hành công tác đấu thầu, cung ứng thuốc, đảm bảo nhu cầu điều trị, thanh toán cho người bệnh và cơ quan Bảo hiểm y tế.
Việc lựa chọn xây dựng DMT hợp lý luôn là nhiệm vụ hàng đầu của các bệnh viện, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh dễ dàng, thuận tiện và sử dụng đúng nguồn kinh phí của bệnh viện. Việc tiến hành phân tích DMT nhằm xác định những tồn tại trong hoạt động sử dụng thuốc, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất giúp cho Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) của bệnh viện xây dựng DMT sát với nhu cầu điều trị, mô hình bệnh tật góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm chi phí điều trị. Các nghiên cứu tổng quát về tình hình sử dụng thuốc như phân tích ABC, phân tích VEN giúp xác định các vấn đề về sử dụng thuốc, làm nền tảng cho các hoạt động can thiệp như lựa chọn, cung cấp, kế hoạch dự trù và dự trữ thuốc. Do vậy, việc đánh giá tổng quan tình hình sử dụng thuốc và ngân sách bệnh viện thông qua phân tích ABC/VEN là một chiến lược có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng điều trị và quản lý kinh tế y tế trong bệnh viện.
Tuy nhiên, hiện nay tại bệnh viện các đề tài nghiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc cũng như đánh giá tính hiệu quả của việc xây dựng DMT vẫn còn hạn chế. Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu thực trạng sử dụng thuốc tại đơn vị mình như thế nào, các thuốc có được sử dụng họp lý hay không, cũng như mức độ phù hợp của danh mục thuốc với mô hình bệnh tật tại đơn vị. Tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh năm 2022” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh năm 2022; 1 2.
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh năm 2022 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần mang lại các thông tin về hoạt động sử dụng thuốc nói riêng và cung ứng thuốc nói chung trong bệnh viện Quận 11. Từ đó, đưa ra một số đề xuất góp phần tăng cường sử dụng thuốc hợp lý tại bệnh viện. Danh mục thuốc và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 1.
Khái niệm danh mục thuốc Theo Hội đồng thuốc và điều trị - cẩm nang hướng dẫn thực hành (Drug and therapeutics committees – A practical guide) do WHO ban hành năm 2003 có định nghĩa: “Danh mục thuốc (formulary list) là danh sách các thuốc được phê duyệt để sử dụng tại cơ sở chăm sóc sức khỏe cụ thể” [12]. Một DMT tốt sẽ giúp loại bỏ được các thuốc không an toàn và kém hiệu quả, từ đó có thể giảm được chi phí điều trị và số ngày nằm viện của bệnh nhân. Đồng thời, giúp giảm số lượng và chi phí mua thuốc, không lãng phí ngân sách. Nguyên tác xây dựng danh mục thuốc Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện như sau: a) Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; b) Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; c) Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; d) Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; e) Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; f) Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành [12].
Tiêu chí lựa chọn thuốc Khoản 2 Điều 5 Thông tư 21/2013/TT-BYT nêu rõ các tiêu chí lựa chọn thuốc với các nội dung: 1. Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng. Mức độ tin cậy của các bằng chứng được thể hiện tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; 2. Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; 3 3.
Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; 4. Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; 5. Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; 6.
Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể; 7. Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng [12]. Văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Trưởng Bộ Y quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong Bệnh viện; Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/06/2011 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành về việc hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh; Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế; Thông tư 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về danh mục thuốc đông y, thuốc dược liệu và vị thuốc y học đông y thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế; Thông tư 19/2018/TT-BYT ngày 30/8/2018 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc thiết yếu quy định nguyên tắc xây dựng, tiêu chí lựa chọn thuốc thiết 4 yếu bao gồm thuốc hóa dược, vắc xin, sinh phẩm, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; danh mục thuốc thiết yếu;sử dụng danh mục thuốc thiết yếu và trách nhiệm thực hiện; Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/06/2011 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về chức năng hoạt động của khoa Dược; Thông tư 44/2018/TT-BYT ngày 28/12/2018 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược. Phương pháp phân tích sử dụng thuốc 1.
Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [2]. Phân tích ABC giúp phân tầng 3 nhóm thuốc để giúp quản lý hiệu quả, bao gồm: các thuốc nhóm A chỉ chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm nhưng chiếm chi phí cao nhất (75 – 80% tổng giá trị tiền), các thuốc nhóm B chiếm 10 – 20% tổng khoản mục và chiếm chi phí từ 15 – 20% tổng chi phí và còn lại là các thuốc nhóm C chiếm số lượng lớn với chi phí thấp. Phương pháp này có vai trò: - Lựa chọn các thuốc có thể thay thế với chi phí thấp hơn trong DMT. - Đo lường mức độ tiêu thụ thuốc thực tế, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện được các vấn đề sử dụng thuốc không hợp lý.
Ưu điểm lớn nhất của phân tích ABC là giúp xác định những thuốc chiếm phần lớn ngân sách, tuy nhiên nhược điểm là không cung cấp đủ thông tin để so sánh các thuốc có hiệu lực khác nhau. Phân tích này nên được áp dụng hằng năm hoặc ngắn hơn, cho một đợt đấu thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu [17]. Loại phân tích này được dùng để kiểm soát các thuốc nhóm A có chi phí cao, chiếm tỷ trọng ngân sách lớn nên cần có chính sách quản lý sử dụng cũng như quản lý tồn kho chặt chẽ, lựa chọn các nhà cung ứng phù hợp để tiết kiệm chi phí và có các dự báo về nhu cầu để tính toán cho việc mua sắm, vì sự thiếu hụt thuốc không lường trước có thể dẫn đến mua khẩn cấp thuốc với giá cao. Phương pháp phân tích nhóm điều trị Phương pháp phân tích nhóm điều trị được xây dựng dựa trên phân tích ABC, phương pháp này có vai trò [2]: 5 - Xác định các nhóm thuốc điều trị được tiêu thụ nhiều nhất và chiếm phần lớn ngân quỹ.
- Chỉ ra những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý khi kết hợp cùng các thông tin về MHBT. - Xác định các thuốc lạm dụng sử dụng hoặc các thuốc mà lượng tiêu thụ không được tính vào số trường hợp mắc một bệnh cụ thể, ví dụ như chloroquine và bệnh sốt rét. - Giúp cho HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả hợp lý trong cùng nhóm điều trị và lựa chọn các thuốc thay thế khác. Các bước tiến hành như sau [2]: 1.