ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con ngƣời và của toàn xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, là trách nhiệm của ngành Y tế và của cả cộng đồng. Trong nhƣng năm trƣớc đây, mức tiêu thụ thuốc bình quân đầu ngƣời tại Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều so với trên toàn thế giới, năm 2013 ở nƣớc ta chỉ 33 USD/ngƣời trong khi trên thế giới là 186USD/ ngƣời[16]. Theo số liệu nghiên cứu năm 2018 của TCYTTG khu vực Tây Thái bình dƣơng đã công bố công trình nghiên cứu đánh giá và so sánh chi tiêu cho y tế và chi tiêu cho sử dụng thuốc tại các quốc gia trong khu vực này, trong đó có Việt Nam qua chuyên đề “How pharmaceutical systems are organized in Asia and the Pacific” mức tiêu thụ thuốc bình quân đầu ngƣời ở nƣớc ta là 124 USD/ ngƣời trong khi đó mức tiêu thụ lớn nhất trong khu vực của Australia là 684 USD/ ngƣời và thấp nhất là Lào với 27 USD/ ngƣời [18].
Theo số liệu thống kê của BYT mức chi tiền thuốc bình quân đầu ngƣời liên tục tăng trƣởng dƣơng và ổn định. Chỉ số này phản ánh nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khỏe ngƣời dân ngày càng đƣợc quan tâm. Năm 2014 con số này là 34,48USD/ngƣời, năm 2015 là 37,97USD/ngƣời. Do nhu cầu ngày càng tăng, thị trƣờng thuốc sôi động năm 2015 có 19.704 số đăng ký thuốc lƣu hành trên thị trƣờng, sự đa dạng về mẫu mã chủng loại và đặc biệt việc đẩy mạnh thông tin quảng cáo nhằm thu lợi nhuận tối đa của các nhà kinh doanh cũng góp phần khó khăn cho kiểm soát và sử dụng thuốc [2].
Việc xây dựng DMT bệnh viện phù hợp và xác định nhu cầu điều trị là yêu cầu cần thiết để mang lại hiệu quả, lợi ích trong sử dụng thuốc và nỗ lực đảm bảo cung ứng thuốc. DMT bệnh viện giúp cải thiện chất lƣợng điều trị, an toàn, giảm chi phí, tiết kiệm cho ngƣời bệnh và bệnh viện. Để xây dựng đƣợc DMT tốt các bệnh viện cần thu thập, phân tích tình hình sử dụng các 1 năm trƣớc đồng thời luôn đánh giá để bổ sung hoặc loại bỏ các thuốc mới đề xuất từ các khoa lâm sàng một cách khoa học, hiệu quả. Trong lĩnh vực cung ứng, DMT sẽ giúp cho việc cung ứng thuận lợi, đủ thuốc có chất lƣợng giá cả hợp lý, đối với lâm sàng các bác sỹ sẽ dễ dàng trong lựa chọn sử dụng và thay thế thuốc.
Bộ Y tế đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện công tác xây dựng DMT bằng việc ban hành thông tƣ 21/2013/TT-BYT, tuy nhiên việc kiểm soát và điều phối trong lựa chọn đƣa thuốc mới vào DMT và giám sát việc sử dụng thuốc ở Việt Nam còn yếu [2], [11]. Trung tâm y tế huyện Cẩm Giàng-là TTYT hạng III trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hải Dƣơng, có nhiệm vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn huyện và các vùng phụ cận. Cùng với nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của ngƣời dân hiện nay, công tác sử dụng thuốc cần đƣợc đề cao, nên việc đánh giá cơ cấu thuốc sử dụng là hết sức cần thiết. Nhằm mang lại một số thông tin về tình hình sử dụng thuốc của bệnh viện, đề tài: “Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dƣơng năm 2020” đƣợc thực hiện mục tiêu: Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Cẩm Giàng Hải Dương năm 2020.
Xác định một số bất cập và nguyên nhân của danh mục thuốc sử dụng tại TTYT huyện Cẩm Giàng - Hải Dương năm 2020 Từ đó đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị để xây dựng DMT đảm bảo hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế góp phần nâng cao hiệu quả cung ứng và sử dụng thuốc hƣớng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lƣợng chăm sóc sức khỏe nhân dân. DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN 1.Khái niệm Danh mục thuốc sử dụng là kết quả của các hoạt động trong chu trình cung ứng thuốc. Hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện là một trong bốn bƣớc của chu trình cung ứng thuốc- một chu trình khép kín gồm 4 hoạt động chính là chẩn đoán, kê đơn, cấp phát và tuần thủ điều trị. Cả 4 hoạt động nói trên đều có vai trò quan trọng, tác động qua lại và ảnh hƣởng lẫn nhau, hoạt động trƣớc là tiền đề cho hoạt động sau phát triển.
Đảm bảo hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện là triển khai thực hiện tốt bốn khâu trên của chu trình sử dụng thuốc [5]. Danh mục thuốc bệnh viện(DMTBV) là danh sách các thuốc đã đƣợc lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện, có vai trò rất quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện; đƣợc xây dựng trên cơ sở DMTBV, DMTCY của Việt Nam và WHO hiện hành đảm bảo mục tiêu: (1) sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả,(2) đáp ứng yêu cầu điều trị cho ngƣời bệnh,(3) đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho ngƣời bệnh tham gia bảo hiểm y tế và (4) phù hợp với khả năng kinh tế của ngƣời bệnh và khả năng chi trả của quỹ BHYT [11], [13]. Danh mục thuốc thuốc mua sắm là danh mục thuốc thực hiện mua theo các kết quả đấu thầu tập trung cấm quốc gia, đấu thầu bảo hiểm y tế, đấu thầu tập trung tại sở y tế, các thuốc thực hiện tự mua sắm, các thuốc thực hiện chuyển lƣợng trong thời gian nghiên cứu của đề tài. Danh mục thuốc đấu thầu là danh mục thuốc theo kết quả trúng thầu thầu tập trung cấm quốc gia, đấu thầu bảo hiểm y tế, đấu thầu tập trung tại sở y tế, các thuốc thực hiện tự mua sắm tại đơn vị trong thời gian nghiên cứu của đề tài.
3 Danh mục thuốc sử dụng là danh mục thuốc đã tiêu thụ phục vụ công tác khám và điều trị tại đơn vị trong thời gian nghiên cứu của đề tài. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sử dụng thuốc trong bệnh viện Bộ Y tế đã có nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất luợng quản lý, sử dụng danh mục thuốc nói chung. Thông tƣ 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của khoa dƣợc bệnh viện: “Khoa Dƣợc là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện. Khoa Dƣợc có chức năng quản lý và tham mƣu cho giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dƣợc trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lƣợng và tƣ vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý”.
Nhƣ vậy Khoa dƣợc có vai trò chủ đạo, đầu mối trong việc quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện. Thông tƣ 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện [11], quy định: “Hội đồng có chức năng tƣ vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện”. Thông tƣ cũng hƣớng dẫn cụ thể các phƣơng pháp phân tích đƣợc áp dụng để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc, nguyên tắc xây dựng danh mục, trong đó chỉ rõ ƣu tiên thuốc sản xuất trong nƣớc; tiêu chí lựa chọn thuốc là ƣu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất, ƣu tiên lựa chọn thuốc generic[11]. Thông tƣ 23/2011/TT-BYT ban hành ngày 10/6/2011 về hƣớng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giƣờng bệnh [7].
Thông tƣ 19/2018/TT-BYT Ngày 30/8/2018 Bộ Y tế ban hành ban hành danh mục thuốc thiết yếu [12]. Quy định về một số nội dung cụ thể trong sử dụng thuốc nhƣ sau: 4 -Quy định về ƣu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nƣớc Thông tƣ 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện. Điều 5 quy định ƣu tiên thuốc sản xuất trong nƣớc [11]. Thông tƣ 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 và Thông tƣ 11/2016/TT- BYT ngày 11/5/2016 của Bộ Y tế quy định khi lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu các cơ sở y tế phải quy định rõ không đƣợc chào thầu thuốc nhập khẩu cùng nhóm tiêu chí kỹ thuật [9].
Thông tƣ 03/2019/TT-BYT ngày 28/03/2019 Bộ Y tế Ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nƣớc đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng. Quy định các cơ sở y tế khi lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quy định rõ không đƣợc chào thầu thuốc nhập khẩu cùng nhóm tiêu chí kỹ thuật với thuốc sản xuất trong nƣớc [15]. - Danh mục thuốc đƣợc ban hành kèm Thông tƣ số 30/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Bộ trƣởng Bộ Y tế về ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dƣợc, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi đƣợc hƣởng của ngƣời tham gia bảo hiểm y tế. Hệ thống danh mục này bao gồm 1030 thuốc hóa dƣợc, sinh phẩm và 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu.
Các thuốc hay hoạt chất đƣợc sắp xếp theo 27 nhóm lớn, theo mã ATC ( giải phẫu, điều trị, hóa học). Một số thuốc hay hoạt chất có nhiều mã ATC, nhiều chỉ định khác nhau đƣợc xếp vào một nhóm phù hợp nhất để hạn chế sự trùng lặp. Tên thuốc hay hoạt chất đƣợc ghi theo tên chung quốc tế và theo quy định của Dƣợc thƣ quốc gia Việt Nam, chỉ ghi đƣờng dùng, dạng dùng, không ghi hàm lƣợng [13]. - Danh mục thuốc thiết yếu đƣợc ban hành theo thông tƣ số 19/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 08 năm 2018 của Bộ trƣởng Bộ y tế.
Danh mục này gồm 510 thuốc hóa dƣợc, vắc xin, sinh phẩm thiết yếu đƣợc sắp xếp thành 30 nhóm tác dụng chính và 357 thuốc cổ truyền thiết yếu đƣợc chia 5 thành 12 nhóm, 380 vị thuốc cổ truyền thiết yếu chia làm 29 nhóm tác dụng [12]. - Danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh ban hành theo thông tƣ số 05/2015/TT-BYT ngày 17 tháng 3 năm 2015 của Bộ trƣởng Bộ y tế về việc ban hành thuốc đông y, thuốc từ dƣợc liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT. Hệ thống danh mục gồm 349 vị thuốc từ cây, con, khoáng vật làm thuốc đƣợc sắp xếp thành 30 nhóm theo y lý y học cổ truyền [16].