Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngành chế biến và xuất khẩu gỗ của Việt Nam giữ vị trí quan trọng trên thị trường quốc tế khi sản phẩm được xuất khẩu đến 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng thứ 2 châu Á và thứ 5 trên thế giới về kim ngạch xuất khẩu, chiếm 6% thị phần toàn cầu (Thủ tướng Chính phủ, 2019). Trong cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu năm 2020, sản phẩm đồ gỗ nội thất (mã HS 9401 và HS 9403) đạt kim ngạch 8,550 tỷ USD (Phúc và ctv, 2021). Trong đó, nguyên liệu gỗ Keo (Acacia) chiếm tỷ trọng đáng kể; riêng tại thị trường châu Âu, tỷ lệ gỗ Keo sử dụng cho nhóm mặt hàng HS 94 chiếm 21% tổng kim ngạch xuất khẩu. Cây Keo được xác định là loài cây trồng lâm nghiệp chính cho rừng trồng sản xuất tại các vùng sinh thái của Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2018).
Tuy nhiên, ngành chế biến gỗ nói chung và chế biến đồ gỗ từ gỗ Keo nói riêng đang gặp nhiều hạn chế:
- Nguồn cung nguyên liệu gỗ Keo từ rừng trồng trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, kích thước và chất lượng gỗ tròn còn thấp;
- Tỷ lệ diện tích rừng trồng Keo đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC, PEFC, VFCS) còn rất nhỏ;
- Trình độ công nghệ ở một số khâu sơ chế còn thủ công, chi phí lao động ngày càng tăng làm suy giảm lợi thế cạnh tranh về giá nhân công rẻ;
- Sự xuất hiện của các rào cản kỹ thuật, yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp và xu hướng chuyển đổi sang kinh tế xanh, giảm phát thải khí nhà kính từ các thị trường nhập khẩu;
- Yêu cầu tổ chức lại sản xuất theo hình thức liên kết chuỗi giá trị gắn trồng rừng với chế biến và thương mại lâm sản theo Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là phần lớn các công trình phân tích chuỗi giá trị (CGT) trước đây chỉ tập trung vào hiệu quả kinh tế hoặc một số khía cạnh xã hội đơn lẻ, chưa tích hợp đồng thời đánh giá tác động môi trường thông qua công cụ đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA), đánh giá tác động xã hội (SLCA) và lượng hóa các chi phí xã hội thành giá trị tiền tệ để xác định giá trị gia tăng bền vững cho ngành hàng đồ gỗ từ gỗ Keo.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích hoạt động của các tác nhân tham gia CGT đồ gỗ từ gỗ Keo, qua đó phát hiện các điểm nghẽn và điều kiện bất lợi cần cải thiện cũng như các lợi thế và cơ hội cần khai thác để nâng cao năng lực cạnh tranh và lợi nhuận của toàn chuỗi, từ đó đề xuất giải pháp phát triển bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam với trọng tâm là đồ gỗ từ gỗ Keo.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ từ gỗ Keo.
- Mục tiêu 2: Phân tích chuỗi giá trị bền vững đồ gỗ từ gỗ Keo.
- Mục tiêu 3: Phân tích môi trường vĩ mô có ảnh hưởng đến hoạt động của CGT đồ gỗ từ gỗ Keo.
- Mục tiêu 4: Đề xuất giải pháp nhằm phát triển CGT bền vững đồ gỗ từ gỗ Keo.
Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Sản phẩm đồ gỗ từ gỗ Keo được sản xuất và tiêu thụ qua những kênh phân phối nào? Có những tác nhân nào tham gia các kênh phân phối?
- Câu hỏi 2: Giá trị gia tăng bền vững được tạo ra và phân phối như thế nào giữa các tác nhân trong CGT?
- Câu hỏi 3: Giá trị gia tăng bền vững và giá trị gia tăng kinh tế có sự khác biệt gì?
- Câu hỏi 4: Môi trường vĩ mô có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của các tác nhân trong CGT?
- Câu hỏi 5: Các giải pháp nào có thể hỗ trợ để phát triển CGT bền vững đồ gỗ từ gỗ Keo?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động ở từng tác nhân tham gia CGT đồ gỗ gia dụng sử dụng nguyên liệu gỗ Keo từ rừng trồng trong nước, bắt đầu từ thị trường gỗ cây đứng (rừng trồng) đến gỗ thanh (cưa xẻ, sấy) và sản phẩm đồ gỗ tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu. Nghiên cứu không bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
- Phạm vi không gian: Vùng Nam Bộ, trọng tâm là khu vực Đông Nam Bộ (tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh) và các làng nghề mộc truyền thống (Hố Nai tại Đồng Nai, Mỹ Luông tại An Giang); địa bàn khảo sát rừng trồng Keo nguyên liệu tập trung tại tỉnh Đồng Nai và tỉnh Cà Mau.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành từ đầu năm 2019 đến tháng 4/2021; các số liệu tổng hợp tập trung vào hai năm 2019 và 2020.
- Phạm vi nội dung và giới hạn: Luận án tập trung đánh giá thực trạng kinh tế, lượng hóa phát thải CO2 (ELCA), đánh giá tác động xã hội (SLCA) và giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối. Luận án không phân tích khâu phân phối tại thị trường bán lẻ nước ngoài, không phân tích các doanh nghiệp FDI, không tính toán việc tận dụng phế liệu (củi, mùn cưa, dăm bào), và chỉ tiêu giá trị gia tăng bền vững chỉ áp dụng cho sản phẩm xuất khẩu (chưa bao gồm phát thải ở khâu sơn phủ bề mặt, vận tải biển quốc tế và tái chế sau tiêu dùng).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn được điểm lại
Tác giả hệ thống hóa các khung lý thuyết và công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị nông lâm sản theo các nhóm chủ đề:
- Cách tiếp cận chuỗi ngành hàng (Filière): Hình thành từ thập niên 1960 bởi các nhà kinh tế Pháp, tập trung vào dòng chảy vật chất và đo lường mối quan hệ đầu vào - đầu ra, giá cả và giá trị tăng thêm dọc theo ngành hàng trong phạm vi quốc gia (Raikes et al., 2000; Danh và ctv, 2016).
- Cách tiếp cận chuỗi giá trị doanh nghiệp: Mô hình của Porter (1985, 1998) tập trung vào các hoạt động sơ cấp, hoạt động hỗ trợ và mô hình 5 áp lực cạnh tranh để xác định lợi thế cạnh tranh về chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm.
- Cách tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu (GVC): Các nghiên cứu của Gereffi & Korzeniewicz (1994), Gereffi (1999), Kaplinsky (2000), Kaplinsky & Morris (2001), Gereffi & Memedovic (2003, 2011), Fernandez & Gereffi (2019) mở rộng phân tích sự phân công lao động quốc tế, cơ cấu quản trị chuỗi (người mua định hướng hoặc người sản xuất định hướng) và các chiến lược nâng cấp chuỗi.
- Khung tiếp cận ValueLinks: GTZ (2007) cung cấp phương pháp thúc đẩy chuỗi giá trị định hướng tạo việc làm và thu nhập cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và nông dân.
- Cách tiếp cận chuỗi giá trị cho người nghèo và yếu tố xã hội: Phương pháp M4P (2008), FAO (2016), Lentink et al. (2016) nhấn mạnh đến phân phối thu nhập, bình đẳng giới, điều kiện làm việc và giảm nghèo (Warsanga & Evans, 2018; Thu et al., 2020; Wang et al., 2021).
- Chuỗi giá trị bền vững và đánh giá vòng đời sản phẩm: FAO (2014) và Fearne et al. (2009) định nghĩa chuỗi giá trị bền vững trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Khái niệm giá trị gia tăng bền vững được Figge & Hahn (2003) xây dựng. Soosay et al. (2012) tích hợp phân tích chuỗi giá trị và đánh giá vòng đời (LCA) đối với ngành rượu vang. Các nghiên cứu ELCA và SLCA trong nông nghiệp được thực hiện bởi Geough et al. (2012), Yan et al. (2013), Thoma et al. (2013), Falcone et al. (2016), Ross et al. (2017), Rivera et al. (2019), Zira et al. (2020), Jarosch et al. (2020), Phương & Xuân (2020).
- Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành gỗ và đồ gỗ: Nghiên cứu chuỗi đồ gỗ toàn cầu của Kaplinsky et al. (2003); nghiên cứu ngành nội thất tại Nga (Svetlana, 2007), chuỗi cung ứng IKEA tại Trung Quốc và Đông Nam Á (Ivarsson & Alvstam, 2010), nội thất tại Hoa Kỳ (Brun et al., 2013), chuỗi xanh hóa nội thất tại Ý (Marchi et al., 2013), thể chế ngành gỗ tại Indonesia (Purnomo et al., 2014; Ahmad et al., 2020), chuỗi đồ gỗ tại Bosnia - Herzegovina (Jankovic, 2014), Ethiopia (Tafesse et al., 2016), Philippines (Israel & Bunao, 2017). Tại Việt Nam, các nghiên cứu chuỗi ngành hàng gỗ gồm có Hoa (2011), Việt (2012), Đức và ctv (2019), Toản (2020).
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Từ tổng quan tài liệu, luận án xác định 3 khoảng trống nghiên cứu cụ thể:
- Các nghiên cứu thực tiễn về CGT ngành gỗ nói chung và đồ gỗ từ gỗ Keo nói riêng chưa đánh giá đồng thời cả 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, thường chỉ chú trọng vào lợi ích kinh tế của các chủ thể mà bỏ qua các tác động ngoại ứng tiêu cực.
- Các yếu tố môi trường (phát thải khí nhà kính) và xã hội (thiếu hụt bảo hiểm, trang thiết bị an toàn lao động) chưa được quy đổi thành giá trị tiền tệ (chi phí xã hội) để hạch toán vào cấu trúc giá trị gia tăng của chuỗi.
- Chưa có công trình nào xác định chi tiết mức độ tác động môi trường và xã hội tại từng khâu cụ thể (từ cây giống, trồng, khai thác, cưa xẻ đến tinh chế) trong chuỗi sản phẩm đồ gỗ từ gỗ Keo tại Việt Nam để làm căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cấp chuỗi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết chuỗi giá trị bền vững (Sustainable Value Chain - SVC): Tiếp cận theo khung của FAO (2014), xem xét chuỗi hoạt động có khả năng tạo ra lợi nhuận xuyên suốt, mang lại lợi ích xã hội và không làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
- Đánh giá vòng đời môi trường (Environmental Life Cycle Assessment - ELCA): Hướng dẫn của UNEP nhằm định lượng dấu vết carbon (phát thải CO2) xuyên suốt các công đoạn từ sản xuất giống, trồng rừng, chăm sóc, khai thác, cưa xẻ đến chế biến tinh chế đồ gỗ.
- Đánh giá vòng đời xã hội (Social Life Cycle Assessment - SLCA): Hướng dẫn của UNEP (2020) để xác định các rủi ro xã hội và chi phí xã hội liên quan đến người lao động, bao gồm việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trang bị phương tiện bảo hộ lao động.
- Lý thuyết Giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối (Absolute Sustainable Value Added): Dựa trên nghiên cứu của Figge & Hahn (2003), tính toán bằng cách lấy tổng giá trị gia tăng kinh tế trừ đi tổng chi phí ngoại ứng môi trường (chi phí phát thải CO2) và chi phí ngoại ứng xã hội (chi phí xã hội do thiếu hụt chế độ lao động).
- Khung phân tích môi trường vĩ mô PESTLE và phân tích cạnh tranh: Phân tích 6 yếu tố vĩ mô (Chính trị, Kinh tế, Xã hội, Công nghệ, Luật pháp, Môi trường) kết hợp mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter và ma trận SWOT.
Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích
- Phương pháp tiếp cận: Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng, tiếp cận hệ thống từ khâu đầu vào đến khâu tiêu thụ cuối cùng.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu:
- Lập sơ đồ chuỗi giá trị: Xác định luồng sản phẩm, các tác nhân trực tiếp, tác nhân gián tiếp và 4 kênh thị trường xuất khẩu, 3 kênh thị trường nội địa.
- Phân tích kinh tế chuỗi: Tính toán doanh thu, chi phí trung gian (CPTG), chi phí tăng thêm (CPTT), giá trị gia tăng (GTGT), giá trị gia tăng thuần (GTGTT) và lợi nhuận cho từng tác nhân trong chuỗi.
- Phân tích dấu vết carbon (LCA): Sử dụng hệ số phát thải và lượng hóa phát thải CO2 tương đương cho từng công đoạn trên một đơn vị sản phẩm (m3 gỗ tròn nguyên liệu). Quy đổi lượng phát thải ra chi phí kinh tế dựa trên giá tín chỉ carbon.
- Lượng hóa chi phí xã hội: Tính toán các khoản chi phí thiếu hụt về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hộ lao động bắt buộc trên 1 m3 gỗ nguyên liệu qua các khâu sản xuất.
- Phân tích chỉ số thương mại quốc tế: Sử dụng các chỉ số Lợi thế so sánh biểu lộ (RCA), Lợi thế thương mại tương đối (RTA), Chỉ số năng lực cạnh tranh thương mại (TSC) và đường cong Lorenz để đánh giá vị thế thị trường đồ gỗ Việt Nam.
- Phân tích ma trận SWOT và tham vấn chuyên gia: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để lựa chọn 4 nhóm chiến lược nâng cấp chuỗi.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu sơ cấp:
- Thu thập từ 1.908 hồ sơ xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ;
- Thu thập từ 55 hồ sơ khai thác gỗ Keo;
- Khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 231 đối tượng liên quan tại 7 tỉnh, thành phố vùng Nam Bộ (gồm hộ trồng rừng, thương lái gỗ, xưởng cưa xẻ sơ chế, cơ sở tinh chế đồ gỗ nội địa, doanh nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, cán bộ quản lý và chuyên gia).
- Dữ liệu thứ cấp: Thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục Hải quan, Cục Thống kê tỉnh Bình Dương, Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, niên giám thống kê, các cơ sở dữ liệu quốc tế (UN Comtrade, ITC, FAOSTAT) và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thiết lập bối cảnh thực tiễn của ngành chế biến xuất khẩu gỗ Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của nguyên liệu gỗ Keo trong các dòng sản phẩm đồ gỗ gia dụng. Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc chuyển đổi từ chuỗi giá trị truyền thống sang chuỗi giá trị bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hội nhập quốc tế và cam kết phát triển kinh tế xanh. Chương này làm rõ 4 mục tiêu cụ thể, 5 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu tại vùng Nam Bộ, ý nghĩa khoa học và thực tiễn cùng 3 điểm đóng góp mới của luận án.
Chương 2. Tổng quan tài liệu
Chương 2 trình bày tổng quan các lý thuyết về chuỗi giá trị từ Filière, chuỗi giá trị Porter, chuỗi giá trị toàn cầu (GVC), ValueLinks, chuỗi giá trị vì người nghèo (M4P) đến chuỗi giá trị bền vững của FAO. Tác giả tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế về phân tích chuỗi giá trị trên các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường, năng lực cạnh tranh và nâng cấp chuỗi trong ngành gỗ. Từ việc đánh giá tổng quan, chương 2 chỉ ra 3 khoảng trống nghiên cứu chính làm tiền đề cho việc xây dựng khung phân tích tích hợp trong chương 3.
Chương 3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng khung phân tích chuỗi giá trị bền vững đối với sản phẩm đồ gỗ từ gỗ Keo. Tác giả chi tiết hóa cơ sở lý luận về phân tích kinh tế chuỗi, đánh giá vòng đời môi trường (ELCA), đánh giá vòng đời xã hội (SLCA), phương pháp tính toán giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối và phân tích PESTLE. Chương này mô tả cụ thể quy trình chọn mẫu, nguồn dữ liệu khảo sát (1.908 hồ sơ xuất khẩu, 55 hồ sơ khai thác, 231 phiếu phỏng vấn tại 7 tỉnh/thành phố), các công thức định lượng chi phí, doanh thu, lượng phát thải CO2, chi phí xã hội và phương pháp tham vấn chuyên gia.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm của luận án, tập trung vào 5 nhóm kết quả chính:
1. Thực trạng ngành chế biến gỗ và sản xuất đồ gỗ từ gỗ Keo
- Giai đoạn 2019 - 2020, Việt Nam duy trì vị thế top 5 thế giới về xuất khẩu đồ gỗ. Vùng Đông Nam Bộ chiếm hơn 75% kim ngạch xuất khẩu gỗ cả nước, tập trung nhiều nhất tại Bình Dương (881 doanh nghiệp) và Đồng Nai (406 doanh nghiệp).
- Chu kỳ kinh doanh rừng trồng Keo tại vùng khảo sát bình quân từ 5 - 7 năm, sản lượng gỗ trung bình đạt 100 - 120 m3/ha. Phần lớn diện tích khai thác gỗ non phục vụ dăm mảnh, tỷ lệ gỗ lớn dùng cho cưa xẻ chế biến đồ gỗ còn hạn chế.
- Cấu trúc chuỗi giá trị đồ gỗ xuất khẩu gồm 04 kênh thị trường chính với sự tham gia của 6 chức năng cơ bản và 15 nhóm tác nhân hỗ trợ; chuỗi giá trị đồ gỗ nội địa gồm 03 kênh thị trường chính.
2. Phân tích kinh tế chuỗi giá trị đồ gỗ từ gỗ Keo
Năm 2019, quy mô kinh tế của hai chuỗi giá trị đồ gỗ từ gỗ Keo được tổng hợp như sau:
| Chỉ tiêu kinh tế |
Chuỗi giá trị đồ gỗ xuất khẩu |
Chuỗi giá trị đồ gỗ nội địa |
| Số lượng kênh thị trường |
04 kênh |
03 kênh |
| Khối lượng gỗ tròn tiêu thụ (m3) |
1.512.500 |
150.000 |
| Lao động sử dụng (ngày công) |
16.452.000 |
2.158.000 |
| Doanh thu / Kim ngạch (tỷ đồng) |
14.689 |
2.448 |
| Lợi nhuận toàn chuỗi (tỷ đồng) |
2.279 |
1.196 |
| Tỷ trọng trong tổng KNXK đồ gỗ VN (%) |
Gần 14% |
- |
Phân tích phân phối giá trị cho thấy tác nhân tinh chế xuất khẩu và thương nhân xuất khẩu chiếm tỷ trọng giá trị gia tăng và lợi nhuận cao nhất trong chuỗi, trong khi người trồng rừng nhận được tỷ suất lợi nhuận trên chi phí thấp nhất và chịu nhiều rủi ro về chu kỳ canh tác.
3. Đánh giá vòng đời môi trường (ELCA) và phát thải CO2
Luận án lượng hóa dòng vật chất và tính toán dấu vết carbon qua các công đoạn sản xuất đồ gỗ xuất khẩu từ gỗ Keo:
- Quá trình sản xuất và vận chuyển đồ gỗ xuất khẩu từ gỗ Keo phát thải tổng cộng 8,981 tấn CO2/m3 gỗ tròn nguyên liệu.
- Trong đó, khâu tinh chế sản phẩm và khâu sấy gỗ/sơ chế là hai khâu phát thải khí nhà kính lớn nhất do tiêu thụ nhiều điện năng và nhiên liệu hóa thạch.
- Chi phí phát thải CO2 tương ứng được xác định là 1.040.000 đồng/m3 gỗ tròn nguyên liệu (dựa trên mức định giá thiệt hại carbon).
4. Đánh giá vòng đời xã hội (SLCA) và Chi phí xã hội
- Đánh giá tại các cơ sở cưa xẻ và xưởng chế biến đồ gỗ tư nhân cho thấy tình trạng không ký hợp đồng lao động dài hạn, thiếu đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và điều kiện trang bị bảo hộ lao động chưa đạt chuẩn.
- Tổng chi phí xã hội phát sinh do không thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm và bảo hộ lao động bắt buộc trong các khâu sản xuất của chuỗi đồ gỗ xuất khẩu là 132.700 đồng/m3 gỗ tròn nguyên liệu.
5. Phân tích Giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối và Môi trường vĩ mô (PESTLE - SWOT)
- Tổng giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối của chuỗi giá trị đồ gỗ xuất khẩu từ gỗ Keo đạt 14.221.800 đồng/m3 gỗ tròn nguyên liệu. Chỉ số này phản ánh sau khi đã khấu trừ toàn bộ chi phí ngoại ứng tiêu cực về môi trường (phát thải khí nhà kính) và chi phí ngoại ứng xã hội (thiếu hụt bảo hiểm lao động), chuỗi giá trị đồ gỗ xuất khẩu từ gỗ Keo vẫn tạo ra giá trị thặng dư ròng dương cho nền kinh tế.
- Phân tích PESTLE và ma trận SWOT nhận diện 4 nhóm chiến lược nâng cấp chuỗi:
- Chiến lược cải tiến sản phẩm (Product upgrading): Tăng tỷ lệ sử dụng gỗ Keo có chứng chỉ rừng quản lý bền vững (FSC), nâng cao chất lượng cưa xẻ, cải tiến mẫu mã và thiết kế.
- Chiến lược đầu tư và tạo việc làm: Hiện đại hóa máy móc thiết bị khâu tinh chế, nâng cao tay nghề và cải thiện điều kiện an toàn lao động cho công nhân.
- Chiến lược cắt giảm chi phí (Process upgrading): Tiết kiệm nguyên liệu gỗ, giảm tỷ lệ tiêu hao năng lượng trong khâu sấy và gia công để giảm chi phí phát thải CO2.
- Chiến lược cải thiện kênh phân phối (Functional/Channel upgrading): Đẩy mạnh liên kết dọc giữa doanh nghiệp tinh chế với các hộ trồng rừng và xưởng cưa xẻ, phát triển kênh phân phối trực tiếp sang thị trường quốc tế.
Chương 5. Kết luận và kiến nghị
Chương 5 tổng kết các kết quả đạt được theo 4 mục tiêu nghiên cứu. Tác giả đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền các địa phương vùng Nam Bộ, Hiệp hội gỗ (VIFOREST, HAWA, BIFA) và các doanh nghiệp chế biến nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng gỗ Keo hợp pháp, thúc đẩy cấp chứng chỉ rừng FSC/VFCS, hỗ trợ liên kết chuỗi và thực hiện các biện pháp giảm phát thải carbon. Chương này cũng nêu rõ các giới hạn của nghiên cứu và gợi ý 3 hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Mở rộng khung phân tích chuỗi giá trị bền vững: Tích hợp thành công lý thuyết chuỗi giá trị truyền thống với công cụ Đánh giá vòng đời môi trường (ELCA) và Đánh giá vòng đời xã hội (SLCA) theo hướng dẫn của UNEP, áp dụng cụ thể cho ngành hàng đồ gỗ từ gỗ rừng trồng tại Việt Nam.
- Lượng hóa chi phí xã hội và môi trường: Chuyển đổi các tác động ngoại ứng tiêu cực (phát thải khí nhà kính và thiếu hụt phúc lợi lao động) thành các chỉ tiêu tiền tệ cụ thể (chi phí phát thải CO2 và chi phí xã hội) để xác định chỉ tiêu Giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối, bổ sung phương pháp luận hạch toán kinh tế môi trường trong nghiên cứu chuỗi giá trị nông lâm sản.
- Phân tích môi trường vĩ mô toàn diện: Áp dụng mô hình PESTLE với đầy đủ 6 yếu tố (bổ sung khía cạnh Luật pháp và Môi trường sinh thái) thay vì mô hình PEST 4 yếu tố truyền thống, phù hợp với đặc thù của sản phẩm chế biến từ tài nguyên rừng xuất khẩu sang các thị trường có quy chuẩn nghiêm ngặt.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh định lượng toàn diện về chuỗi gỗ Keo: Cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chi tiết về quy mô sản lượng, số lượng kênh phân phối (04 kênh xuất khẩu, 03 kênh nội địa), doanh thu, lao động và cơ cấu phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị đồ gỗ từ gỗ Keo tại vùng Nam Bộ.
- Xác định các điểm nghẽn của chuỗi: Chỉ ra khâu sơ chế/cưa xẻ và khâu tinh chế là hai mắt xích gây phát thải CO2 lớn nhất (8,981 tấn CO2/m3 gỗ tròn) và có mức độ vi phạm an toàn lao động, thiếu hụt bảo hiểm cao nhất (chi phí xã hội 132.700 đồng/m3 gỗ tròn).
- Đề xuất hệ thống chiến lược và giải pháp thực thi: Xây dựng 4 nhóm chiến lược cụ thể (cải tiến sản phẩm, đầu tư và tạo việc làm, cắt giảm chi phí, cải thiện kênh phân phối) gắn liền với định hướng phát triển kinh tế xanh và Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Phạm vi khảo sát sơ cấp tập trung tại vùng Nam Bộ (Đông Nam Bộ và một số địa phương Tây Nam Bộ), chưa bao phủ các vùng chế biến gỗ trọng điểm khác như Duyên hải Miền Trung hay Bắc Bộ.
- Chưa khảo sát và phân tích các tác nhân doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tham gia trong ngành chế biến gỗ.
- Giới hạn nghiên cứu chưa tính toán hoạt động phân phối, bán lẻ và tiêu dùng tại thị trường nước ngoài; chưa lượng hóa khâu sử dụng phế liệu (củi, mùn cưa, dăm bào).
- Việc tính toán phát thải trong đánh giá vòng đời môi trường (ELCA) chưa bao gồm công đoạn sơn phủ bề mặt hoàn thiện sản phẩm, khâu vận chuyển từ cảng biển Việt Nam đến tay người tiêu dùng quốc tế và khâu tái chế/xử lý sau sử dụng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu chuỗi giá trị đồ gỗ từ gỗ Keo trên phạm vi toàn quốc và so sánh hiệu quả chuỗi giữa các vùng sinh thái lâm nghiệp khác nhau.
- Nghiên cứu chuỗi giá trị có sự tham gia của các doanh nghiệp FDI để đánh giá mức độ lan tỏa công nghệ và áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nước.
- Đánh giá toàn bộ vòng đời sản phẩm (Cradle-to-Grave) bao gồm cả khâu vận tải biển quốc tế, hệ thống bán lẻ toàn cầu, công đoạn sơn phủ bề mặt và tái chế sản phẩm sau sử dụng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh trồng rừng và chế biến gỗ. Luận án cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển rừng gỗ lớn, cấp chứng chỉ rừng bền vững (FSC/VFCS) và thực thi các cam kết giảm phát thải khí nhà kính trong lâm nghiệp.
- Doanh nghiệp và Hiệp hội ngành gỗ (VIFOREST, HAWA, BIFA): Cung cấp dữ liệu về cơ cấu chi phí, định mức phát thải CO2 và chi phí xã hội qua từng khâu sản xuất; hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện điểm nghẽn để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm chi phí năng lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh từ thị trường nhập khẩu.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị chuỗi cung ứng, Kinh tế tài nguyên môi trường và Quản lý lâm nghiệp. Phần cơ sở lý luận (Chương 3) và mô hình phân tích tích hợp (Kinh tế - ELCA - SLCA - PESTLE) là tài liệu tham khảo có giá trị phương pháp luận cho các đề tài nghiên cứu về chuỗi giá trị nông lâm sản bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng dữ liệu sơ cấp từ những nguồn nào và quy mô mẫu khảo sát là bao nhiêu?
Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ 1.908 hồ sơ xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ, 55 hồ sơ khai thác gỗ Keo và phỏng vấn trực tiếp 231 đối tượng liên quan (hộ trồng rừng, thương lái, xưởng cưa xẻ, doanh nghiệp chế biến nội địa, doanh nghiệp xuất khẩu, chuyên gia) tại 7 tỉnh, thành phố vùng Nam Bộ từ đầu năm 2019 đến tháng 4/2021.
2. Chuỗi giá trị đồ gỗ xuất khẩu và nội địa từ gỗ Keo có quy mô kinh tế như thế nào trong năm 2019?
Năm 2019, chuỗi đồ gỗ xuất khẩu gồm 04 kênh thị trường, tiêu thụ 1.512.500 m3 gỗ tròn, sử dụng khoảng 16.452.000 ngày công lao động, tạo ra kim ngạch 14.689 tỷ đồng (chiếm gần 14% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ cả nước) và lợi nhuận 2.279 tỷ đồng. Chuỗi đồ gỗ nội địa gồm 03 kênh thị trường, tiêu thụ gần 150.000 m3 gỗ tròn, sử dụng khoảng 2.158.000 ngày công, đạt doanh thu 2.448 tỷ đồng và lợi nhuận gần 1.196 tỷ đồng.
3. Lượng phát thải CO2 và chi phí ngoại ứng môi trường của chuỗi đồ gỗ xuất khẩu là bao nhiêu?
Quá trình sản xuất và vận chuyển đồ gỗ xuất khẩu từ gỗ Keo phát thải 8,981 tấn CO2 trên mỗi 1 m3 gỗ tròn nguyên liệu. Mức chi phí phát thải môi trường tương ứng được lượng hóa là 1.040.000 đồng/m3 gỗ tròn nguyên liệu.
4. Chi phí ngoại ứng xã hội được xác định trong luận án là gì và có giá trị bao nhiêu?
Chi phí xã hội là giá trị tiền tệ phát sinh do việc các cơ sở sản xuất trong chuỗi không thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp) và không trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động cho công nhân. Tổng chi phí xã hội này được tính toán là 132.700 đồng/m3 gỗ tròn nguyên liệu.
5. Giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối của chuỗi đồ gỗ xuất khẩu từ gỗ Keo được tính ra sao và đạt bao nhiêu?
Giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối được tính bằng tổng giá trị gia tăng kinh tế trừ đi chi phí phát thải CO2 và chi phí xã hội. Kết quả tính toán đạt 14.221.800 đồng/m3 gỗ tròn nguyên liệu, khẳng định chuỗi sản phẩm vẫn tạo ra giá trị thặng dư ròng dương sau khi đã bù đắp các chi phí ngoại ứng về môi trường và xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thanh Cao đã phân tích toàn diện chuỗi giá trị sản phẩm đồ gỗ gia dụng sử dụng nguyên liệu gỗ Keo tại vùng Nam Bộ thông qua cách tiếp cận chuỗi giá trị bền vững tích hợp phân tích kinh tế, đánh giá vòng đời môi trường (ELCA), đánh giá vòng đời xã hội (SLCA) và phân tích môi trường vĩ mô PESTLE. Công trình đã lượng hóa thành công các chi phí ngoại ứng về phát thải khí nhà kính (8,981 tấn CO2/m3 gỗ tròn) và chi phí xã hội (132.700 đồng/m3 gỗ tròn) để xác định giá trị gia tăng bền vững tuyệt đối đạt 14.221.800 đồng/m3 gỗ tròn nguyên liệu. Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn về nguyên liệu gỗ lớn, chứng chỉ rừng bền vững và điều kiện lao động, luận án đề xuất 4 nhóm chiến lược nâng cấp chuỗi, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và phát triển bền vững ngành chế biến gỗ Việt Nam.