chương 1, tác giả trình bày tổng quát cách thu thập dữ liệu, phương pháp nghiên cứu, quy trình thực hiện nghiên cứu và cấu trúc của nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong chương, tác giả trình bày khái niệm cổ tức, các hình thức chia cổ tức, điều kiện trả cổ tức, phương thức chi trả cổ tức, quy trình thanh toán cổ tức và các chỉ tiêu thể hiện cổ tức. Sau đó, tác giả lược khảo lý thuyết có liên quan và các nghiên cứu thực nghiệm, từ đó đưa ra khoảng trống nghiên cứu cho đề tài.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 Cổ tức tại các công ty niêm yết 2.1 Khái niệm về cổ tức (Dividends) Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của các công ty cổ phần (Ross và cộng sự, 2019). Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2020, cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho cổ đông bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu dựa trên số cổ phần mà họ nắm giữ.
Brealey và cộng sự (2011) cho rằng cổ tức là khoản thanh toán mà công ty thực hiện cho các cổ đông từ thu nhập hoặc lợi nhuận của công ty. Quyết định chi trả cổ tức bao gồm xác định số tiền sẽ chi trả và khi nào chi trả. Tần suất chi trả cổ tức thông thường là hàng năm, nửa năm, hàng quý hoặc hàng tháng. Ở Mỹ, các công ty niêm yết ưa chuộng việc chia cổ tức theo quý, trong khi Nhật Bản, Anh, Úc chia cổ tức mỗi nửa năm.
Ở Việt Nam, thông thường việc thanh toán cổ tức là mỗi cuối năm tài chính. Như vậy, cổ tức là phần thưởng bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu mà công ty chia cho các cổ đông. Khi công ty kinh doanh có lãi, một phần lợi nhuận đó sẽ được chia đều cho các cổ đông tương ứng với số lượng cổ phần mà mỗi người sở hữu. Cổ đông sẽ nhận được một khoản tiền đều đặn hàng năm, giống như một hình thức "lãi suất" cho số tiền đã đầu tư vào công ty.
Cổ tức có thể cung cấp ít nhất thu nhập ổn định tạm thời và nâng cao tinh thần giữa các cổ đông, nhưng cổ tức này có được giữ ổn định qua thời gian hay không còn tùy thuộc vào chính sách của ban điều hành. Việc công ty thường xuyên chia cổ tức cho thấy tình hình kinh doanh tốt và là một cách để công ty thể hiện sự trân trọng đối với các cổ đông. Trong công ty cổ 9 phần, trả cổ tức không phải là một chi phí; thay vào đó, nó là sự phân chia lợi nhuận sau thuế giữa các cổ đông. Các công ty cổ phần đại chúng thường trả cổ tức theo một lịch trình cố định.
Tuy nhiên các công ty này có thể hủy cổ tức theo lịch trình, hoặc tuyên bố cổ tức đột xuất bất cứ lúc nào.2 Các phương thức chi trả cổ tức Cổ tức tiền mặt Đây là hình thức cổ tức phổ biến nhất, trong đó công ty trả một phần lợi nhuận của mình bằng tiền mặt cho các cổ đông. Số tiền này được xác định dựa trên số cổ phần mà mỗi cổ đông sở hữu. Khi công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt có thể được coi là tín hiệu tích cực về tình hình tài chính của công ty. Nó thể hiện rằng công ty có đủ tiền mặt để chia sẻ lợi nhuận với cổ đông, từ đó tăng cường niềm tin của nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, việc chi trả cổ tức tiền mặt giúp ổn định giá trị cổ phiếu vì các cổ đông không bị pha loãng cổ phần. Ngoài ra, chi trả cổ tức tiền mặt có thể thu hút các nhà đầu tư tìm kiếm thu nhập ổn định từ cổ tức. Tuy nhiên việc chi trả cổ tức tiền mặt làm giảm lượng tiền mặt của công ty, ảnh hưởng đến khả năng tái đầu tư hoặc duy trì thanh khoản. Công ty còn có thể phải đối mặt với áp lực tài chính nếu không có đủ lợi nhuận để chi trả cổ tức tiền mặt trong những thời kỳ khó khăn.
Cổ tức cổ phiếu Thay vì trả bằng tiền mặt, công ty có thể chọn cách phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông. Điều này có nghĩa là mỗi cổ đông sẽ nhận được thêm một số lượng cổ phiếu mới tương ứng với tỷ lệ cổ tức được quyết định. Điểm mạnh khi công ty chi trả cổ tức bằng cổ phiếu chính là công ty có thể giữ lại tiền mặt cho các hoạt động đầu tư hoặc dự trữ, giúp tăng cường khả năng tài chính. Khi phát hành cổ phiếu mới, công ty có thể khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu và tin tưởng vào sự tăng trưởng dài hạn của công ty.
Tuy nhiên khi phát hành thêm cổ phiếu mới làm pha loãng quyền sở hữu của cổ đông hiện tại, có thể dẫn đến giảm giá trị cổ phiếu. Khi phát hành thêm cổ phiếu 10 đồng nghĩa với việc công ty có thể phải đối mặt với áp lực từ cổ đông để duy trì tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận cao để hỗ trợ giá cổ phiếu. Cổ tức bằng tài sản khác Ngoài chi trả cổ tức bằng tiền mặt và cổ phần, công ty có thể thanh toán bằng tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của công ty (thành phẩm, hàng hóa, bất động sản v. Tuy nhiên, hình thức này là hình thức ít phổ biến nhất do công ty sẽ bị giảm một lượng tài sản và dẫn đến giảm giá trị sổ sách của cổ phiếu.
Nếu công ty có nhiều hàng tồn kho hoặc tài sản không cần thiết, chi trả cổ tức bằng tài sản có thể giúp giảm bớt các khoản này và tối ưu hóa quản lý tài sản. Bằng cách chi trả cổ tức bằng tài sản, công ty có thể giữ lại tiền mặt, giúp duy trì thanh khoản và chuẩn bị tốt hơn cho các nhu cầu tài chính trong tương lai. Một trong những khó khăn của việc chia cổ tức bằng tài sản là định giá. Xác định giá trị hợp lý của tài sản để chi trả cổ tức có thể phức tạp và gây ra tranh chấp hoặc bất đồng giữa công ty và cổ đông.
Ngoài ra, một số tài sản có thể không dễ dàng thanh lý hoặc chuyển đổi thành tiền mặt, điều này có thể gây khó khăn cho cổ đông khi muốn chuyển đổi tài sản thành tiền mặt. Nếu tài sản chi trả cổ tức là tài sản chiến lược hoặc cần thiết cho hoạt động kinh doanh, công ty có thể đối mặt với rủi ro về mặt vận hành.3 Điều kiện trả cổ tức Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Cổ tức bằng tiền mặt trả cho cổ đông phải lấy từ lợi nhuận sau thuế của công ty. Quy định này có tác động hạn chế doanh nghiệp rút vốn từ các khoản đầu tư ban đầu của họ để chi trả cổ tức và làm suy yếu vị thể an toàn của các chủ nợ của doanh nghiệp.
Theo Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020, quy định về trả cổ tức bao gồm: (i) Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; (ii) Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; (iii) Ngay sau khi trả hết số cổ tức, công ty vẫn bảo 11 đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn. Quy định nhằm bảo vệ lợi ích của chủ nợ công ty, khi công ty gặp khó khăn về tài chính, không thể đảm bảo thanh toán các khoản nợ thì không được chi trả cổ tức bằng tiền.4 Quy trình thanh toán cổ tức Ngày giao Ngày dịch Ngày đăng Ngày thông báo không ký cuối thanh toán cổ tức hưởng cùng quyền Hình 2. Quy trình thanh toán cổ tức Ngày thông báo cổ tức Hình 2.1 minh họa quy trình chi trả cổ tức của một công ty niêm yết. Trước khi thông báo cổ tức, Hội đồng quản trị công ty khiến nghị mức chi trả cổ tức, thời hạn và thủ tục thanh toán cổ tức.
Sau đó Hội đồng quản trị mở cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên để xem xét và chấp thuận. Nếu được thông qua, ngày họp ĐHĐCĐ này trở thành ngày thông báo cổ tức. Nội dung thông báo bao gồm mức trả cổ tức, hình thức cổ tức, ngày chốt danh sách cổ đông và ngày thanh toán cổ tức. Ngày giao dịch không hưởng quyền Sau khi thông báo cổ tức, cổ phiếu công ty vẫn được giao dịch và cổ đông được hưởng quyền lợi bình thường.
Tuy nhiên vào ngày giao dịch không hưởng quyền, nhà đầu tư nào mua cổ phiếu thì sẽ không có quyền nhận cổ tức của đợt chi trả đã công bố. Theo quy định chu kỳ thanh toán T+2 hiện tại, nhà đầu tư phải hai ngày sau mới thực sự sở hữu cổ phiếu. Do đó ngày giao dịch trước ngày đăng ký cuối cùng sẽ là ngày giao dịch mà nhà đầu tư khi mua cổ phiếu sẽ không được hưởng các quyền lợi của cổ đông. Vào ngày này, về mặt lý thuyết, giá cổ phiếu dự kiến sẽ sụt giảm một khoản bằng với số tiền cổ tức.
Ngày chốt danh sách cổ đông 12 Sau ngày giao dịch không hưởng quyền 1 ngày giao dịch là ngày chốt danh sách cổ đông. Trung tâm lưu ký chốt danh sách khách hàng sở hữu chứng khoán để thực hiện các quyền cho cổ đông. Nếu có tên trong danh sách, người sở hữu chứng khoán sẽ có quyền nhận cổ tức, quyền mua cổ phiếu phát hành thêm. Ngày thanh toán Trong vòng 6 tháng kể từ ngày kết thúc cuộc họp ĐHĐCĐ, công ty tiến hành thanh toán cho cổ đông theo phương thức mà Đại hội thông qua.
Công ty thực hiện thanh toán cổ tức vào ngày này, là thời điểm tiền được ghi có vào tài khoản của nhà đầu tư.2 Chính sách cổ tức tại các công ty niêm yết 2.1 Khái niệm chính sách cổ tức (Dividend policy) Chính sách cổ tức là chính sách ấn định mức lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu để giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho cổ đông. Chính sách này thể hiện quan điểm của công ty về việc cân đối giữa việc tái đầu tư lợi nhuận để phát triển và việc trả cổ tức cho cổ đông nhằm cung cấp thu nhập ổn định và tạo động lực cho việc nắm giữ cổ phiếu của công ty.