mở đầu là trình bày tổng quan về khóa luận, đưa ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu cùa đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về giá cổ phiếu phổ thông và các nhân tố ảnh tác động đến giá cổ phiếu phổ thông: Đưa ra các cơ sở lý luận, lý thuyết về giá cổ phiếu và các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu của các CTCP ngành dầu khí được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu: Theo các cơ sở lý thuyết, trình bày cụ thể các bước tiến hành nghiên cứu đề tài trong thực tiễn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Nêu ra thực trạng giá của cổ phiếu, thực trạng các tác động của các nhân tố đến giá cổ phiếu.
Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị: Qua kết quả nghiên cứu đưa ra các ý kiến để nhận biết rủi ro, phương hướng khắc phục để các nhà đầu tư và doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất. 4 Thư viện ĐH Thăng Long CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ CỔ PHIẾU PHỔ THÔNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU PHỔ THÔNG 2. Tổng quan về cổ phiếu 2.
Khái niệm cổ phiếu Theo Khoản 1, Điều 4, Luật chứng khoán 2019 chứng khoán là tài sản bao gồm các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; chứng khoán phái sinh; các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định. Loại chứng khoán phổ biến nhất trên thị trường hiện nay là cổ phiếu. Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Phân loại cổ phiếu Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 thì cổ phiếu có 02 loại chính: Cổ phiếu phổ thông (hay còn gọi là cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi.
Trong đó, cổ phiếu ưu đãi lại được chia thành 04 loại: Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và cổ phiếu ưu đãi khác. Cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông sẽ có các quyền được quy định tại Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 trong đó nổi bật là quyền dự họp, phát biểu, biểu quyết tại các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Còn cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi sẽ được hưởng một số đặc quyền đồng thời bị hạn chế một số quyền so với cổ đông phổ thông. Cụ thể: Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: Có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu phổ thông.
Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi biểu quyết có các quyền như cổ đông phổ thông nhưng không được chuyển nhượng cổ phiếu đó cho người khác (trừ trường hợp chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc thừa kế). Cổ phiếu ưu đãi cổ tức: Được trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phiếu phổ thông/mức ổn định hằng năm nhưng bị loại trừ quyền biểu quyết, dự họp đại hội cổ đông hay đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (trừ trường hợp Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông về nội dung làm thay đổi bất lợi quyền và nghĩa vụ của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức). Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại: Được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được thoả thuận trước. Những người nắm cổ phiếu này cũng bị loại trừ quyền biểu quyết, dự họp đại hội cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (trừ khi cổ phiếu ưu đãi hoàn lại chuyển thành 5 cổ phiếu phổ thông hoặc Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông về nội dung làm thay đổi bất lợi quyền và nghĩa vụ của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại).
Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ, có thể phân biệt được cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Đây là cách phân biệt phổ biến nhất. Khi nói đến cổ phiếu của một công ty, người ta thường nói đến cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Bên cạnh, cách phân loại dựa vào quyền lợi của chủ sở hữu cổ phiếu thì cổ phiếu còn được phân loại theo hình thức như sau: Cổ phiếu ghi danh: Ghi rõ tên người sở hữu trên cổ phiếu.
Cổ phiếu này khá chuyển nhượng phức tạp, phải đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được Hội đồng Quản trị của công ty cho phép. Cổ phiếu vô danh: Không ghi tên người sở hữu trên cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tự do chuyển nhượng cổ phiếu này. Tổng quan về cổ phiếu phổ thông Cổ phiếu phổ thông (Common stocks) hay còn gọi là cổ phiếu thường, là loại cổ phiếu phổ biến nhất của một công ty cổ phần.
Cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này được gọi là cổ đông phổ thông, và họ có đầy đủ quyền chuyển nhượng, biểu quyết và hưởng cổ tức tương ứng với số cổ phần nắm giữ. Tuy nhiên, trong trường hợp công ty phá sản, cổ đông phổ thông chỉ được nhận tiền sau khi chủ nợ, trái chủ và cổ đông ưu đãi đã nhận phần tiền tương ứng. Cổ phiếu phổ thông được phát hành rộng rãi ra công chúng, và bất kỳ nhà đầu tư nào cũng có thể mua thông qua đợt phát hành lần đầu ra công chúng hoặc thị trường chứng khoán. Cổ tức nhận được từ cổ phiếu không cố định và phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và chính sách của công ty.
Cổ đông phổ thông có quyền tham gia Đại hội cổ đông, biểu quyết và nhận cổ tức. Họ cũng có quyền chuyển nhượng cổ phiếu và quyền mua mới cổ phiếu khi công ty phát hành thêm. Ngoài ra, cổ đông phổ thông còn có quyền kiểm tra sổ sách, tra cứu điều lệ công ty, và hưởng một phần tài sản nếu công ty phá sản. Tổng quan về giá cổ phiếu phổ thông 2.
Mệnh giá cổ phiếu Tại Điều 13, Luật Chứng khoán 2019 quy định mệnh giá chứng khoán chào bán trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ghi bằng Đồng Việt Nam. Mệnh giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ chào bán ra công chúng là 10 nghìn đồng. 6 Thư viện ĐH Thăng Long Mệnh giá cổ phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của cổ phiếu là giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ phiếu và được ghi trên cổ phiếu. Giá trị mệnh giá của cổ phiếu không liên quan đến giá trị thị trường.
Giá trị sổ sách của cổ phiếu Giá trị sổ sách của cổ phiếu thường là kết quả của quá trình tính toán dựa trên thông tin kế toán của doanh nghiệp. Trong tình huống doanh nghiệp chỉ phát hành cổ phiếu thường, giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu thường được xác định bằng cách chia vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần của công ty cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành. Nếu doanh nghiệp phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, quy trình tính giá trị sổ sách yêu cầu trừ đi giá trị cổ phiếu ưu đãi từ tổng giá trị tài sản thuần, sau đó chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành. Giá trị của cổ phiếu ưu đãi được xác định dựa trên mệnh giá hoặc giá mua lại, phụ thuộc vào loại cổ phiếu ưu đãi mà doanh nghiệp phát hành.
Đồng thời, giá trị này còn được tính thêm phần cổ tức chưa được trả cho cổ đông ưu đãi từ các kỳ trước (nếu có). Qua quá trình xem xét giá trị sổ sách, cổ đông có thể hiểu rõ hơn về sự gia tăng giá trị của cổ phiếu thường sau một khoảng thời gian kinh doanh, so với số vốn đầu tư ban đầu. Điều này giúp họ đưa ra quyết định thông tin và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách chính xác và toàn diện. Giá trị sổ sách của công ty được xác định bằng cách: 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧−𝐓ổ𝐧𝐠 𝐬ố 𝐧ợ−𝐆𝐢á 𝐭𝐫ị 𝐜ổ 𝐩𝐡𝐢ế𝐮 ư𝐮 đã𝐢 (𝐧ế𝐮 𝐜ó) Giá trị sổ sách = 𝐒ố 𝐜ổ 𝐩𝐡𝐢ế𝐮 𝐭𝐡ườ𝐧𝐠 2.
Giá trị thực của cổ phiếu thường Giá trị thực hay còn gọi là giá trị lý thuyết của cổ phiếu thường là giá trị thực của cổ phiếu tại thời điểm hiện tại, được tính dựa trên các yếu tố như cổ tức của công ty, triển vọng phát triển và lãi suất thị trường. Đây là cơ sở quan trọng để nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư vào cổ phiếu, giúp họ đánh giá giá trị thực của cổ phiếu để so sánh với giá thị trường và chọn ra phương án đầu tư hiệu quả nhất. Có nhiều phương pháp tính toán và đo lường giá trị thực của cổ phiếu, nhưng tổng cộng có hai phương pháp chính được sử dụng: phương pháp chiết khấu dòng tiền và phương pháp định giá so sánh. Phương pháp chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flow, DCF): là một phương pháp định giá cổ phiếu dựa trên nguyên lý rằng giá trị hiện tại của doanh nghiệp là tổng của các dòng tiền mà công ty sẽ trả cho cổ đông trong tương lai.
Phương pháp chiết khấu dòng tiền có thể được áp dụng cho nhiều loại hình công ty khác nhau. Tuy nhiên, độ chính xác và hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc vào việc ước tính chính xác giá trị dòng tiền trong tương lai, tỷ suất chiết khấu, và số năm dự đoán. Phương pháp định giá so sánh: dựa trên việc so sánh các tỷ số giá trị thị trường để xác định giá cổ phiếu phù hợp nhất. Các tỷ số định giá tham chiếu trong phương pháp này có thể bao gồm tỷ số P/B (giá trị cổ phiếu trên giá trị sổ sách), tỷ số P/E (giá trị cổ phiếu trên thu nhập một cổ phiếu) và tỷ số P/S (giá trị cổ phiếu trên doanh thu mỗi cổ phiếu).
Các tỷ số định giá tham chiếu này có thể được áp dụng từ ngành, hoặc có thể sử dụng ước tính của công ty với kỳ vọng tương lai hoặc so sánh với các công ty tương đương trong cùng ngành. Tương ứng với các tỷ số giá tham chiếu P/B, P/E và P/S, giá trị tham chiếu của các công ty có thể là BVPS (giá trị sổ sách mỗi cổ phiếu được tính bằng cách chia giá trị VCSH không bao gồm cổ phiếu ưu đãi cho số cổ phiếu thường đang lưu hành), EPS (lợi nhuận mỗi cổ phiếu thường) và S (doanh thu mỗi cổ phiếu được tính bằng cách chia doanh thu thuần cho số cổ phiếu thường đang lưu hành).