Chương 1 sẽ bắt đầu với việc trình bày một số mô hình định giá tài sản nền tảng để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố đến giá cổ phiếu ở phần 1.2 sẽ giới thiệu mô hình đa nhân tố vĩ mô để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến giá cổ phiếu. Giới thiệu các mô hình định giá tài sản Việc định giá một tài sản có thể xem như xác định giá trị hiện tại của lợi suất hoặc dòng tiền chiết khấu trong một khoảng thời gian. Tuy nhiên, rất khó có thể xác định được các nhân tố có liên quan ảnh hưởng đến lợi suất của tài sản trong quá trình chiết khấu. Thông qua các tín hiệu của thị trường và xác định ảnh hưởng của thị trường đến lợi suất của tài sản là nhiệm vụ chính trong định giá tài sản và được xem là yếu tố quyết định áp dụng chiến lược đầu tư.
Định giá tài sản là một yếu tố quan trọng trong quá trình ra quyết định/hoạch định chính sách không chỉ ở cấp độ vi mô mà cả cấp độ vĩ mô. Thông thường, khi nói đến định giá các nhà đầu tư 15 thường nghĩ đến việc định giá cổ phiếu. Tuy nhiên, về tổng thể, định giá cũng áp dụng đối với các tài sản tài chính khác như trái phiếu, chứng khoán phái sinh, tài sản phi tài chính như vàng, bất động sản. Nếu các nghiên cứu tập trung vào dự báo trong tương lai thì thường dựa vào các giả định ban đầu và những giả định này chỉ đúng sau khi được kiểm định và mô hình kiểm định phải phù hợp1.
Trong nhiều trường hợp, các giả định ban đầu của mô hình định giá thường không đạt kiểm định thực tế. Do vậy, chúng ta không thể đưa các nhân tố ảnh hưởng đến lợi suất tài sản mà những nhân tố này không thay đổi trong 02 giai đoạn liên tục. Mặt khác, vì nhiều yếu tố không đúng như dự báo nên một số tài sản bị định giá sai và các mô hình cần được hoàn thiện và hiệu chỉnh. Corchane (2000) chỉ ra rằng, các lý thuyết định giá tài sản ngày càng phổ biến và áp dụng nhiều trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, giá của nhiều tài sản hoặc dòng tiền trong điều kiện bất định rất khó có thể quan sát được chẳng hạn như các dự án mới của khu vực công và tư, chứng khoán mới hoặc sản phẩm phái sinh.… Thêm vào đó, sự khác biệt giữa các mô hình định giá tài sản phát sinh từ những giả định về hàng loại thông tin, hành vi của nhà đầu tư, hàng loạt chuỗi các sự kiện mới từ thị trường tài chính, chính sách vĩ mô của các thị trường, thậm chí cả các xung đột trên thị trường đối với tài sản thực và tài sản tài chính. Trong khi vẫn còn nhiều khác biệt trong các mô hình định giá tài sản song nhìn chung tất cả các mô hình định giá tài sản đều dựa trên một hoặc nhiều nội dung cốt lõi. Trước hết là dựa trên quy luật một giá, giá của bất kỳ 02 tài sản nào cùng kỳ hạn thì lợi suất phải như nhau. Quy luật một giá là tiền đề cho nội dung cốt lõi thứ hai đó là nguyên tắc không 1 (Corchane, 2000) giải thích về vấn đề định giá tài sản được giải quyết không phải việc lựa chọn giá tuyệt đối hay giá tương đối là bao nhiêu mà phụ thuộc vào tài sản là gì và mục đích của cách tính toán nó như thế nào.
Hầu hết các vấn đề nghiên cứu này chưa được giải quyết cụ thể, ví dụ như mô hình CAPM, các nhân tố được lựa chọn trong mô hình theo cách tiếp cận tuyệt đối tuy nhiên khi áp dụng mô hình, giá tài sản phản ánh tương đối với rủi ro thị trường và các nhân tố khác mà không giải thích yếu tố nào quyết định đến rủi ro thị trường hoặc phần bù rủi ro và hệ số beta. Mặt khác, các giả định bỏ qua yếu tố chênh lệch giá với giả định về điều kiện cân bằng của thị trường (rủi ro của giá thị trường). Do vậy vấn đề ở đây chính là các mô hình dịnh giá tài sản tuyệt đôi và tương đối có thể giải thích dựa trên nguyên lý cơ bản về định giá tài sản. 16 ăn chênh lệch giá, nghĩa là các tác nhân tham gia trên thị trường sẽ tự điều chỉnh giá tài sản tài chính để không xảy ra cơ hội ăn chênh lệch.
Cơ hội ăn chênh lệch giá xảy ra khi các tài sản có thể được kết hợp cả mua – bán, tạo thành danh mục đầu tư có chi phí bằng 0, không có cơ hội thua lỗ và xác xuất sinh lợi cao. Cơ hội chênh lệch giá được tạo ra trên thị trường tài chính bởi vì khi giá điều chỉnh thấp hơn mức giá trị thực của nó nhà đầu tư tận dụng ngay cơ hội này và khi tất cả các nhà đầu tư đều nhận ra cơ hội kinh doanh ăn chênh lệch thì thị trường nhanh chóng trở lại cân bằng, nghĩa là cơ hội kinh doanh ăn chênh lệch không còn. Ví dụ, nếu tồn tại cơ hội ăn chênh lệch vì giá chứng khoán A quá thấp, nhà đầu tư sẽ mua chứng khoán A và bán khi giá tăng. Quy luật một giá dựa trên giả định không có buôn bán ăn chênh lệch, khi nhà đầu tư chỉ có thể mua hoặc bán 02 tài sản giống nhau với cùng một mức giá (nghĩa là hai tài sản giống nhau thì không thể bán ở 2 mức giá khác nhau).
Nếu hai tài sản đó có sự khác biệt về giá và nếu chi phí giao dịch nhỏ hơn sự chênh lệch giá của 02 tài sản này thì cơ hội chênh lệch giá được thiết lập. Lý thuyết (APT, Ross 1976) là một trong số mô hình định giá tài sản nổi bật dựa trên nền tảng nguyên lý kinh doanh ăn chênh lệch. Nội dung cốt lõi tiếp theo ẩn sau các mô hình định giá tài sản là sự cân bằng của thị trường tài chính (equibrilium market). Việc nắm giữ danh mục của nhà đầu tư nhằm tối ưu hóa danh mục.
Điều này đòi hỏi nhà đầu tư bàng quang với lợi suất và cả những thay đổi nhỏ trong danh mục mà họ đang nắm giữ. Mô hình định giá tài sản dựa trên sự cân bằng của thị trường phụ thuộc vào việc lựa chọn danh mục của nhà đầu tư và tính minh bạch của thị trường. Tính minh bạch của thì trường cho thấy lợi suất danh mục đầu tư bằng lợi suất của danh mục thị trường. Chính vì vậy, các mô hình định giá tài sản được thiết lập nhằm giải thích giá tài sản được xác định/ảnh hưởng như thế nào (nhân tố nào sẽ ảnh hưởng đến/tác động đến giá tài sản), góp phần định hướng cho việc ra quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh chính sách của các nhà hoạch định chính sách.
Mô hình định giá tài sản vốn -CAPM Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Assets Pricing Model – CAPM) được Shape, Lintner, Mossin đặt nền móng xây dựng và phát triển. Mô hình CAPM 17 biểu diễn mối quan hệ giữa lợi suất và rủi ro kỳ vọng của cổ phiếu dựa trên Lý thuyết Markowitz Portfolio. Mô hình CAPM được sử dụng rộng rãi trong việc định giá chứng khoán và tạo ra lợi nhuận kỳ vọng cho các tài sản dựa trên rủi ro của các danh mục đầu tư đó và chi phí vốn. Mô hình được sử dụng cho tất cả các loại cổ phiếu khi đã ước tính được hệ số β – thước đo mức độ rủi ro mà khoản đầu tư sẽ thêm vào danh mục đầu tư.
Nếu như một cổ phiếu có rủi ro cao hơn rủi ro thị trường thì hệ số β sẽ lớn hơn 1 và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 có nghĩa là cổ phiếu này sẽ giúp giảm rủi ro của cả danh mục đầu tư. Markowitz (1952) giả định rằng mỗi nhà đầu tư đều có thể gán một mức độ chấp nhận nào đó (hay giá trị hữu dụng) vào những danh mục đầu tư ngang nhau dựa trên lợi suất đầu tư ước tính và rủi ro công cụ để sắp xếp thứ tự đó. Thang điểm hữu dụng được xem là công cụ để sắp xếp thứ tự các danh mục đầu tư. Những giá trị hữu dụng cao hơn được gán cho những danh mục đầu tư có mức tương quan lợi suất rủi ro hấp dẫn hơn.
Công thức hợp lý thể hiện mối tương quan giữa các mức ngại rủi ro, lợi suất ước tính đạt được với mức độ rủi ro (phương sai của lợi suất này) theo thang điểm hữu dụng: U = E(r) - 0,5A. Trong đó U là giá trị hữu dụng và A là chỉ số biểu thị mức độ ngại rủi ro của nhà đầu tư.5 là một con số quy ước theo thông lệ của xác suất thống kê diễn tả mối quan hệ giữa lợi suất ước tính bình quân E(r) và độ lệch chuẩn (σ) của giá trị bình quân đó. Phương trình hàm hữu dụng cho thấy sự nhất quán với quan điểm cho rằng giá trị hữu dụng sẽ tăng lên nếu kết quả tỷ suất lợi nhuận được ước tính tăng và giá trị hữu dụng sẽ giảm đi nếu mức độ rủi ro tăng. Chỉ số A biểu thị mức độ ngại rủi ro của nhà đầu tư.
Mỗi nhà đầu tư khác nhau sẽ có một chỉ số A khác nhau, tuỳ thuộc vào tâm lý của nhà đầu tư đó vào khối lượng của cải (sự giàu có) mà họ đang sở hữu. Thông thường, đối với cùng một khoản đầu tư thì các nhà đầu tư có mức ngại rủi ro cao hơn sẽ đòi hỏi mức đền bù rủi ro tương ứng nhiều hơn mới chấp nhận đầu tư. Thu nhập của nhà đầu tư vào một tài sản thường được cấu thành bởi hai bộ phận; Thứ nhất là thu nhập do chính bản thân tài sản đó mang lại, đối với các tài sản là chứng khoán thì đó là cổ tức hoặc trái tức mà người sở hữu chứng khoán được nhận; Thứ hai là phần lỗ hoặc lãi do sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán của tài 18 sản đầu tư (còn gọi là lỗ hoặc lãi về vốn hay thặng dư vốn). Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là khả năng (hay xác suất) xảy ra những kết quả đầu tư ngoài dự kiến, hay cụ thể hơn là khả năng làm cho mức sinh lời thực tế nhận được trong tuơng lai khác với mức sinh lợi dự kiến ban đầu.
Trước kia, người ta quan niệm rủi ro là những yếu tố làm cho mức sinh lời giảm đi; nhưng hiện nay quan điểm này đã thay đổi. Tất cả các yếu tố làm cho mức sinh lời thay đổi so với dự kiến ban đầu đều được coi là rủi ro.