CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU 1. ĐO LƯỜNG TỶ SUẤT LỢI TỨC VÀ RỦI RO CỦA CỔ PHIẾU 1. Cổ phiếu và giá cổ phiếu a. Khái niệm cổ phiếu Như chúng ta đều biết để bắt đầu hoặc mở rộng bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng cần phải có nhiều yếu tố khác nhau, trong đó vốn bao giờ cũng là yếu tố then chốt.Trong hầu hết các trường hợp, cần phải tiến hành huy động, tập trung vốn.
Một trong những công cụ được sử dụng để huy động, tập trung vốn đó chính là cổ phiếu. Cổ phiếu là loại giấy chứng nhận sự góp vốn vào một công ty để trở thành một thành viên của công ty đó. Theo Luật Chứng khoán số70/2006/QH 11 ngày 29 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định: “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành”. Đứng trên góc độ công ty, cổ phiếu là một phương tiện huy động vốn để tạo dựng hoặc mở rộng công ty.
Do đó, cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn. Phân loại cổ phiếu Cổ phiếu là một loại chứng khoán rất cơ bản và có nhiều loại khác nhau, dưới đây chỉ là cách phân loại thông dụng nhất. - Phân loại theo quyền lợi cổ đông: bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Luan van 10 Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất và thể hiện rõ các đặc điểm của cổ phiếu đã nêu trên.
Cổ phiếu thường là giấy chứng nhận sở hữu cổ phần thường, cổ phiếu này xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu thường sẽ trở thành cổ đông thường hay cổ đông phổ thông. Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu có thu nhập tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty. Cổ phiếu ưu đãi thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn cổ phiếu thường, nó là một chứng khoán lai tạp có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu.
Đó là một giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn. Đây là loại cổ phiếu mà công ty phát hành cam kết trả tỷ lệ cố tức cố định hàng năm và không tuyên bố ngày đáo hạn. - Phân loại theo quyền tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong đại hội đồng cổ đông: bao gồm cổ phiếu đơn phiếu, cổ phiếu đa phiếu và cổ phiếu lưỡng phiếu. Cổ phiếu đơn phiếu là cổ phiếu được phân bố mỗi cổ phiếu là một phiếu bầu.
loại cổ phiếu này dung cho các công ty ít cổ đông, bởi vì tất cả các cổ đông đều có thể và có điều kiện tham dự đại hội cổ đông đầy đủ. Cổ phiếu đa phiếu là loại cổ phiếu dung cho công ty nhiều cổ đông. Tất cả cổ đông không thể về tham dự đại hội để bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề quan trọng của đại hội. Đại hội cổ đông được thực hiện hai cấp là cấp cơ sở và cấp trung ương.
Cổ phiếu lưỡng phiếu là cổ phiếu mà cổ đông của cổ phiếu này được phân bổ hai phiếu bầu. Doanh nghiệp phát hành loại cổ phiếu này thường có ít cổ đông. Quyền lưỡng phiếu này thường dành cho các cổ đông có uy tín, có Luan van 11 danh phận trong xã hội, trong ngành chuyên môn mà doanh nghiệp đó đang kinh doanh. - Phân loại theo mục đích huy động vốn bao gồm cổ phiếu sơ cấp và cổ phiếu thứ cấp Cổ phiếu sơ cấp là cổ phiếu được phát hành lúc thành lập công ty hoặc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
Cổ phiếu sơ cấp thường là cổ phiếu ghi danh cổ đông, do đó việc mua bán phải gắn liền với việc đăng ký lại tên cổ đông tại công ty phát hành và tuân theo luật lệ mua bán, trao đổi và chuyển nhượng chứng khoán. Cổ phiếu thứ cấp là cổ phiếu được công ty phát hành nhằm bổ sung vốn điều lệ của công ty. Chính vì thế, cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu bổ sung vốn điều lệ. Đặc điểm của cổ phiếu thứ cấp là mệnh giá rất nhỏ, vô danh, cổ đông không tham gia quản lý công ty.
Các loại giá liên quan đến cổ phiếu Mệnh giá: giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu là mệnh giá của cổ phiếu. Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa. Cùng với thời gian, khi công ty ngày càng phát triển, giá trị thực của cổ phiếu cũng nhu giá bán của cổ phiếu trên thị trường ngày càng xa mệnh giá cổ phiếu. Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa bởi vì đối với cổ phiếu mệnh giá ít có ý nghĩa kinh tế.
Thư giá: giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định. Giá trị nội tại: là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại. Đây là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư quyết định đầu tư vào cổ phiếu, đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu, so sánh với giá thị trường và chọn lựa phương án đầu tư có hiệu quả nhất. Luan van 12 Tại điểm cân đối giữa cung và cầu, hiện giá của cổ phiếu là giá cả hợp lý của cổ phiếu được nhà đầu tư chấp nhận.
Thị giá: là giá cả cổ phiếu trên thị trường tại thời điểm nhất định. Tùy theo quan hệ cung cầu mà giá cổ phiếu có thể thấp, cao hoặc bằng giá thị thực của cổ phiếu tại thời điểm mua bán. Quan hệ cung cầu cổ phiếu lại chịu tác động của nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội…. trong đó yếu tố quan trọng nhất là giá thị trường của công ty và khả năng sinh lợi của nó.
Thị giá cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào thu nhập của cổ phiếu trong hiện tại và giá trị của các khoản đầu tư của công ty đó trong tương lai. Nếu các nhà đầu tư tin rằng công ty sẽ đạt mức tỷ suất lợi nhuận cao trong tương lai thì nhà đầu tư sẽ chấp nhận mua cổ phiếu với giá cao hơn giá cổ phiếu hiện tại. Đo lường tỷ suất lợi tức a. Đo lường tỷ suất lợi tức quá khứ Khi đánh giá giữa các cơ hội đầu tư, nhà đầu tư thông thường so sánh những cơ hội đầu tư này với sự biến động giá trên thị trường.
Chẳng hạn nhà đầu tư muốn so sánh giữa một cổ phiếu giá 30.000đ không được trả cổ tức với cổ phiếu giá 150.000đ trả cổ tức 5. Để định giá hợp lý hai cơ hội đầu tư này, cần phải so sánh một cách chính xác tỷ suất lợi tức quá khứ của hai cổ phiếu đó. Khoảng thời gian thực hiện hoạt động đầu tư vào cổ phiếu nào đó gọi là thời gian nắm giữ, và thu nhập nhận được trong khoảng thời gian đó gọi là thu nhập hay lợi tức thời kỳ (ký hiệu là HPR). HPR được tính như sau: Giá trị lúc kết thúc khoản đầu tư = Giá trị lúc bắt đầu khoản đầu tư Giá trị này luôn luôn bằng hoặc lớn hơn 0 và không bao giờ nhận giá trị âm.
Khi giá trị này lớn hơn 1, nghĩa là giá trị tài sản tăng, tức là nhà đầu tư Luan van 13 nhận được một tỷ suất lợi tức dương trong suốt thời gian đầu tư. Ngược lại khi giá trị này nhỏ hơn 1 nghĩa là giá trị tài sản bị sụt giảm, và nhà đầu tư nhận được lợi tức âm trong suốt thời kỳ đầu tư. Khi HPR bằng 0 nghĩa là nhà đầu tư đã đánh mất hết tiền của mình. Mặc dù HPR giúp chúng ta ước tính được sự thay đổi trong giá trị của hoạt động đầu tư, nhà đầu tư thông thường ước tính thu nhập theo tỷ lệ phần trăm.
Sự chuyển đổi này tạo điều kiện dễ dàng so sánh giữa những cơ hội đầu tư thay thế một cách trực tiếp. Để biến đổi HPR sang tỷ lệ phần trăm, ta tính tỷ suất lợi tức thời kỳ (HPY): HPY = HPR -1 Ở một khía cạnh liên quan, thông thường nhà đầu tư cần xác định tỷ suất lợi tức trên cơ sở năm, gọi là tỷ suất lợi tức hàng năm ( AHPY) AHPY = √ + -1 (trong đó n là số năm đầu tư) Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý là giá trị kết thúc của khoản đầu tư có thể là kết quả của sự tăng hoặc giảm của giá trị tài sản đầu tư, thu nhập từ sự đầu tư, hoặc kết hợp giữa sự thay đổi giá và thu nhập. Giá trị cuối cùng bao gồm giá trị của tất cả các khoản thu liên quan đến hoạt động đầu tư. Vì thế công thức tổng quát của HPY là: + − = ∗ % Trong đó D là cổ tức cố định trong khoảng thời gian đầu tư, P1 và P0 lần lượt là giá trị bán ra và giá trị mua vào.
Trên cơ sở AHPY chúng ta sẽ tiếp tục xem xét phương pháp tính tỷ suất lợi tức trung bình năm của một tài sản đơn. (AM) ∑ = Luan van 14 (với ∑ là tổng các tỷ suất lợi tức nhận được hàng năm) Đối với phương pháp trung bình nhân (GM) tỷ suất lợi tức năm trong n năm là: GM = ∏ ( + )–1 Với ∏ (1 + ) là tích của các tỷ suất lợi tức nhận được hàng năm Nhà đầu tư thường quan tâm đến hoạt động đầu tư dài hạn khi so sánh giữa những cơ hội đầu tư thay thế. GM được xem là phương pháp tốt nhất để đo lường tỷ suất lợi tức trung bình dài hạn vì nó thể hiện tỷ suất lợi tức kép hang năm dựa trên sự so sánh giá trị lúc bán ra và giá trị lúc mua vào của tài sản.Ngược lại tỷ suất lợi tức trung bình cộng thể hiện thành quả tiêu biểu cho một năm cụ thể. Đo lường tỷ suất lợi tức kỳ vọng Trái với tỷ suất lợi tức quá khứ, nhà đầu tư trong trường hợp này kỳ vọng vào triển vọng của một cơ hội đầu tư thông qua tỷ suất lợi tức kỳ vọng.
Nhà đầu tư tính toán tỷ suất lợi tức kỳ vọng bằng cách phân tích các tỷ suất ước tính. Để làm được điều này, nhà đầu tư phải ấn định tất cả các khả năng (xác suất) có thể xảy ra của tất cả các mức lợi tức.