Chương 1: Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần đầu tư Thái Bình 1.5 Tình hình cạnh tranh, thị trường Đối thủ nước ngoài: Theo Tạp chí World Footwear Magazine, năm 2017, Việt Nam tiếp tục giữ vị trí thứ hai trong nhóm 10 nước xuất khẩu giày dép lớn nhất trên thế giới, sau Trung Quốc. Cụ thể, năm 2017 Việt Nam đã xuất khẩu 1,02 tỷ đôi giày dép các loại, chiếm 7,4% thị phần ngành hàng này. Trong khi đó Trung Quốc - nhà xuất khẩu lớn nhất trên thế giới, đã xuất khẩu 9,31 tỷ đôi giày, chiếm 67,3% thị phần giày xuất khẩu toàn cầu năm 2017. Do đó, để vượt qua đối thủ Trung Quốc là vô cùng khó khăn, nên mục tiêu hiện tại của công ty là đưa ngành sản xuất giày ngày một phát triển hơn chứ không đặt nặng mục tiêu cạnh tranh với Trung Quốc.
Đối thủ trong nước: Việt Nam có khoảng hơn 550 doanh nghiệp xuất khẩu giày dép, đứng đầu là các công ty giày nổi tiếng như: Công ty TNHH giày Thượng Đình, Công ty Vina giày, Biti’s. Đây đều là những công ty có sản lượng sản xuất lớn mạnh hàng năm và năng lực sản xuất vượt trội và là đối thủ cạnh tranh với Công ty CPĐT Thái Bình. Chính vì thế, nhà máy cần tạo ra các lợi thế riêng cho mình để vượt qua các đối thủ trên.6 Thuận lợi và khó khăn chung của nhà máy ❖ Thuận lợi - Giày dép là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của chúng ta dù ở bất kỳ quốc gia nào, thị trường giày quốc tế là thị trường to lớn và lâu đời có nhu cầu tiêu thụ rất lớn, mỗi năm tiêu thụ ước tính gần 2 tỷ đôi. Đặc biệt là thị trường Châu Âu và Châu Mỹ.
- Nhà máy có vị trí địa lý thuận lợi, gần đường hàng không, đường thủy, đặc biệt là đường bộ, thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác. Đồng thời việc nhập nguyên vật liệu về nhà máy cũng dễ dàng, tiết kiệm được thời gian và chi phí vận chuyển. - Nhà máy có nguồn lao động dồi dào và chi phí lao động thấp. Đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực tốt, trình độ chuyên môn cao, năng động, ham học hỏi, nhanh nhẹn trong việc tiếp thu công nghệ mới.
13 do an Chương 1: Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần đầu tư Thái Bình - Tình hình an ninh, chính trị trong nước ổn định cùng với đà phát triển của nền kinh tế Việt Nam theo hướng mở cửa, hội nhập đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và công ty CPĐT Thái Bình nói riêng ngày càng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa. Những điều kiện thuận lợi trên là động lực giúp nhà máy tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, nhà máy cũng tồn tại một số khó khăn trong công tác quản lý như: ❖ Khó khăn - Nguyên liệu chủ yếu phải nhập khẩu. Ðơn đặt hàng không phân bổ đều trong năm, thường tập trung vào các tháng đầu và cuối năm.
Do đó, trong giai đoạn này công ty thường phải tăng ca để hoạt động. Điều này gây khó khăn cho công ty nhất là việc tái tạo sức lao động cho công nhân. - Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới với xu hướng toàn cầu hóa thì nhà máy gặp phải những khó khăn là luôn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác bởi hiện nay các khu công nghiệp, khu chế xuất được xây dựng nhiều nên ngày càng có khả năng chuyển giao công nghệ. Vì thế nhà máy luôn phải tìm biện pháp hoàn thiện và phát triển.
- Cũng như các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, công ty giày Thái Bình luôn cảnh giác, đề phòng trước sự biến động không ngừng của thị trường thế giới để tránh các doanh nghiệp nước ngoài kiện giày da Việt Nam bán phá giá. Đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực giày ngày càng lớn mạnh, nhà máy phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh trong nước và ngoài nước, nhất là đối với các đối thủ đến từ Trung Quốc. - Việc mở rộng sản xuất không được thực hiện do diện tích đất hạn hẹp. Vì vậy để nâng cao năng suất nhà máy chỉ có thể đầu tư về máy móc, thiết bị, con người chứ không thể mở rộng nơi sản xuất.
14 do an Chương 2: Cơ sở lý thuyết chung về 07 loại lãng phí CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ 7 LOẠI LÃNG PHÍ 2.1 Khái niệm về hoạt động tạo giá trị và lãng phí Giá trị của một sản phẩm được xác định dựa trên những gì khách hàng thực sự yêu cầu và sẵn sàng chi trả tiền để có được. Lãng phí là bất cứ gì làm hao tổn về thời gian, vật liệu hoặc nhà xưởng mà không làm tăng giá tri cho sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ cho khách hàng. Như vậy, loại bỏ lãng phí chính là loại bỏ mọi hoạt động không mang lại giá trị cho khách hàng. Ở góc độ tạo giá trị, các hoạt động của doanh nghiệp có thể được chia thành ba nhóm, bao gồm: - Các hoạt động tạo giá trị tăng thêm cho sản phẩm (Value- added activities): Là các hành động làm biến dạng nguyên vật liệu đầu vào thành đúng sản phẩm mà khách hàng yêu cầu và khách hàng chi tiền để mua chúng.
- Các hoạt động không tạo giá trị cho sản phẩm và không cần thiết (Non value- added activities): Các hoạt động không cần thiết cho việc chuyển hoá nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm khách hàng mong muốn, những hoạt động này được xem là lãng phí và cần phải loại bỏ ra khỏi quy trình. Doanh nghiệp cần phải nhận dạng và loại bỏ ngay khi có thể nhằm tránh lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp và do đó cắt giảm chi phí. - Các hoạt động cần thiết mà không tạo giá trị tăng thêm cho sản phẩm (Necessary non value-added activities): Đối với hoạt động cần thiết nhưng không tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng, hay nói cách khác là hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng từ quan điểm của khách hàng nhưng lại cần thiết trong việc tạo ra sản phẩm, hàng hóa, nếu không có sự thay đổi đáng kể nào từ quy trình cung cấp hay sản xuất trong hiện tại. Theo bản liệt kê gốc của Taiichi Ohno gồm 07 loại lãng phí, đó là: sản xuất thừa, di chuyển, tồn kho, khuyết tật sản phẩm, chờ đợi, công đoạn thừa, thao tác thừa.
1 do an Chương 2: Cơ sở lý thuyết chung về 07 loại lãng phí 2.2 Khái quát về 07 loại lãng phí trong quá trình sản xuất 2.1 Sản xuất thừa Là sản xuất không cần thiết như nhiều hơn hoặc sớm hơn số lượng cần thiết, vượt quá nhu cầu, vượt quá hiệu quả hoạt động của máy móc, của nhân công và khả năng quản lí. Điều này làm tăng những rủi ro về sản phẩm bị lỗi thời, tăng chi phí lưu kho và chi phí vận chuyển cũng như chi phí xử lý những vấn đề gặp phải đối với sản phẩm lưu kho. Ngoài ra sản xuất dư thừa còn tạo tâm lý thụ động, không tìm biện pháp cải tiến quy trình, vì luôn nghĩ đã có lượng tồn kho bù đắp nếu xảy ra sự cố trục trặc trong sản xuất. Vì thế sản xuất dư thừa có thể xem là lãng phí nguy hiểm nhất cả về những lãng phí hữu hình cũng như cả những tác hại của lãng phí vô hình.2 Di chuyển Di chuyển ở đây nói đến bất kỳ sự chuyển động nào không tạo ra giá trị tăng thêm cho sản phẩm.
Ví dụ hoạt động di chuyển nguyên vật liệu từ nhà kho chính tới nơi tập kết trước khi đưa vào dây chuyền sản xuất, mà vật liệu đó không hề thay đổi về mặt giá trị. Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn phải chịu các chi phí vận chuyển. Hoặc ví dụ một nhân viên khi kết thúc công đoạn của mình phải chuyển sản phẩm đến một nhân viên khác để hoàn thành công đoạn tiếp theo ở một nơi không gần chỗ anh ta làm việc. Nếu một ngày anh ta phải di chuyển hàng chục lần như vậy, thì thời gian di chuyển đó không tạo ra giá trị gia tăng đồng thời lại tăng sự vất vả cho người lao động.
Vận chuyển giữa các công đoạn, kết quả là thời gian chu kì sản xuất kéo dài, không hiệu quả trong việc sử dụng lao động và không gian (Capital, 2004).3 Tồn kho Hàng tồn kho được định nghĩa là các loại nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm được giữ lại với thời gian lâu. Nếu nhà kho của doanh nghiệp luôn chứa đầy nguyên vật liệu hay thành phẩm thì doanh nghiệp đó đang lãng phí một số tiền lớn. Lưu kho quá nhiều khiến 01 doanh nghiệp bị đọng vốn mà lẽ ra lượng vốn đó có thể dùng cho những mục đích quan trọng khác. Mặt khác, lưu kho nhiều còn dẫn đến 2 do an Chương 2: Cơ sở lý thuyết chung về 07 loại lãng phí các chi phí khác như thuê mặt bằng nhà kho, chi phí bảo quản hoặc các chi phí do hỏng hóc,…Đây là vấn đề nan giải với các doanh nghiệp, vì nếu sản xuất vừa đủ, doanh nghiệp sẽ có thể bị thiếu hụt do sản phẩm hư hại, còn nếu sản xuất dư thừa thì sản phẩm sẽ chiếm diện tích và lãng phí nguồn tài nguyên.
Hoặc việc thu mua hàng với số lượng lớn rồi tích trữ lại, nhưng do không nắm bắt được tình hình nên giá cả hàng hóa bị giảm sút, dẫn đến doanh nghiệp bị thua lỗ. Nên đây được xem là một loại lãng phí lớn của nhà máy, vì thế có thể coi cách tốt nhất để tìm ra lãng phí này là bắt đầu với các điểm tồn trữ có khuynh hướng dồn đống (Rawabdeh, 2005).4 Sản phẩm lỗi Sản phẩm lỗi tức là sản phẩm khi sản xuất ra không đúng với yêu cầu kỹ thuật trong tài liệu kỹ thuật mà khách hàng giao cho hay những sản phẩm không đảm bảo đúng yêu cầu chất lượng riêng của ngành. Các sản phẩm lỗi không chỉ dẫn đến các chi phí trực tiếp cho doanh nghiệp như phí khắc phục các khuyết tật trong chính sản phẩm, chi phí để kiểm tra lỗi, chi phí giải quyết các khiếu nại của khách hàng, lãng phí chi phí nguồn nhân lực mà còn kéo theo cả chi phí gián tiếp như cản trở kế hoạch sản xuất, tạo thời gian nhàn rỗi ở mỗi trạm làm việc tiếp theo và kéo dài thời gian sản xuất. Một sản phẩm lỗi có thể có 03 giải pháp là thuyết phục khách hàng chấp nhận với giá rẻ hơn, sửa chữa hay làm lại, loại bỏ.
Rõ ràng sữa chữa, làm lại hay loại bỏ đều dẫn đến chi phí trực tiếp cho doanh nghiệp.