Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC I. Khái niệm về bai tập hóa học: Bài tập hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kỹ năng nhất định. Câu hỏi là những bài làm mà trong quá trình hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành một hoạt động tái hiện.Trong các câu hỏi, giáo viên thường yêu cầu học sinh phải nhớ lại nội dung của các định luật, qui tắc, khái niệm, trình bày lại một mục trong sách giáo khoa, .Còn bài toán là những bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành một hoạt động sáng tạo. Ví dụ: “Thế nào là nước cứng, nước mềm?” , hoặc là “Em hãy cho biết những tính chất hóa học cơ bản của kim loại kiểm”.
Khi trả lời câu hỏi này, học sinh chỉ cần tiến hành hoạt động tái hiện kiến thức. Một ví dụ khác, như “ Bằng phương pháp hóa hoc, hãy phân biệt các dung dịch HCl, HNO;, H;PO,”. Khi gặp bài toán này,học sinh phải tiến hành hoạt động sáng tạo,học sinh phải suy nghĩ xem làm cách nào để phân biệt được các chất đó, em phải kết hợp những tính chất đặc trưng của các chất này, chọn lọc xem nên sử dụng hóa chất gì để có thể nhận ra được chúng. Như vậy, chính là các bài toán, chứ không phải các câu hỏi, là phương tiện cực kỳ quan trọng để phát triển tư duy học sinh.
Người ta thường lựa chọn những bài toán và câu hỏi đưa vào một bài tập là có tính toán đến một mục đích dạy học nhất định, là nấm hay hoàn thiện một dạng tri thức hay kỹ năng nào đó. Việc hình thành và phát triển kỹ năng giải các bài toán hóa học cho phép thực hiện những mối liên hệ qua lại mới giữa các tri thức thuộc cùng một trình độ của cùng một năm học và thuộc những trình độ khác nhau của những năm học khác nhau. cũng như giữa tri thức và kỹ năng. SVTH: Nguyễn Thị Nha Trang 3 Luận văn tot nghiệp GVHD: Cỏ Vú Thị Thơ Il.
Tam quan trọng của bài tập hóa học: Bài tập hóa học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu riêng của môn hóa học. Bài tập hóa học vừa là mục đích. vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Lý luận đạy học coi bài tập là một phương pháp dạy học cụ thể, được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở các cấp học và các loại trường khác nhau, được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học : nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, khái quát hóa - hệ thống hóa và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh.
Nó cung cấp cho học sinh cả kiến thức, cả con đường giành lấy kiến thức. mà còn mang lại niềm vui sướng của sự phát hiện, của việc tìm ra đáp số. Bài tập hoá học có nhiều ứng dụng trong dạy học với tư cách là một phương pháp dạy học phổ biến, quan trọng và hiệu nghiệm. Như vậy, bài tập hóa học có công dụng rộng rãi, có hiệu quả sâu sắc trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, trong việc hình thành phương pháp chung của việc tự học hợp lý, trong việc rèn luyện kĩ năng tự lục sáng tạo.
Bài tập hóa học là phương tiện cơ bản để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thứ đã học vào thực tế đời sống. sản xuất và tập nghiên cứu khoa học. Kiến thức học sinh tiếp thu được chỉ có ích khi sử dụng nó. Phương pháp luyện tập thông qua việc sử dụng bài tập là một trong các phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng day học bộ môn.
Đối với học sinh việc giải bài tập là một phương pháp dạy học tích cực. Tác dụng của bài tập hoá học: J. Bai tập hoá học có tác dung làm cho học sinh hiểu sâu hơn các khái niệm đã học: Học sinh có thể học thuộc lòng các định nghĩa của các khái niệm,học thuộc lòng các định luật,nhưng nếu không qua việc giải bài tập,học sinh chưa thể nào nắm vững những cái mà hoc sinh đã thuộc.Bài tập hoá học sẽ rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng được các kiến thức đã học,biến những kiến thức tiếp thu được qua các bài giảng của thấy thành kiến thức của chính mình.Khi vận dụng được một kiến thức nào đó,kiến thức đó sẽ được nhớ lâu. Ví dụ: Biết lưu huỳnh có số thứ tự 1416, thuộc chu kỳ 3, phân nhóm chính nhóm IV.
Hãy suy ra cấu tạo nguyên tử của nguyên tố đó. SƯTH: Nguyễn Thị Nhã Trang 4 Luin văn tót nghiệp GVHD: Có Vũ Thị Thơ Để giải được loại bài tập này. học sinh trước hết phải nhớ lại ý nghĩa của số thứ tự. chu kỳ, phân nhóm, từ đó tổng hợp các yếu tố này lại để suy ra được cấu tạo nguyên tử.
Ở bài tập này, học sinh cẩn nhớ lại số thứ tự của một nguyên tố cho biết số điện tích hạt nhân, số Z, số proton, số clectron của nguyên tố S; chu kỳ cho biết số lớp electron; phân nhóm cho biết số electron ngoài cùng. Tổng hợp lại học sinh sẽ suy ra được cấu tạo nguyên tử. Bài tập hoá học mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm năng nề khối lượng kiến thức của học sinh. Ví dụ: Phèn chua là gì? Vì sao có thể dùng phèn chua để làm trong nước? Bài tập này không những củng cố kiến thức đã học mà còn mở rộng sự hiểu biết của học sinh.
Để làm bài tập này, học sinh phải biết công thức hoá học của phèn chua, và từ sự giải thích lý do phèn chua có thể làm trong nước,học sinh còn khắc sâu được kiến thức vé phản ứng thuỷ phân của muối trong dung dịch,nhờ vậy, kiến thức hoá học gắn lién với thực tế cuộc sống có thể đi vào trí nhớ các em một cách dé dàng,khong làm nặng nề kiến thức của học sinh, từ đó học sinh cảm thấy hoá học khong phải là khái niệm khó hiểu, khó nhớ mà rất thiết thực. gắn gũi với các em. “ sd né Liếc te le 3. hoá học củng cố.
ý mộ và hệ thốn Kiến thức cũ nếu chi đơn thuần nhấc lại sẽ làm cho học sinh chán vì không có gì mới và hấp dẫn.Bài tập hoá học sẽ ôn tập. củng cố và hệ thống hoá kiến thức một cách thuận lợi nhất. Một số đáng kể bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức của nhiều nội dung, nhiều chương, nhiều bài khác nhau. Qua việc giải các bài tập hoá học này,học sinh sẽ tìm ra mối liên hệ giữa các nội dung của nhiều bài, chương khác nhau, từ đó sẽ hệ thống hoá được kiến thức đã học.
Ví đụ: Dạng bài tập về chuỗi phản ứng: FeS;ạ=> SO; —> HCi—> HạS => H,SO; “> cl, > KCIO;—> 0; Ở bài tập này, học sinh phải vận dụng kiến thức không chỉ hoá tính và phương pháp điều chế của Clo, hợp chất Clo mà còn của chương Oxi, lưu huỳnh nữa. Ngoài dang bài tập về chuỗi phản ứng nhằm củng cố và hệ thống hoá kiến thức. còn rất nhiều dạng bài tập hoá học khác học sinh thường tiếp xúc cũng có tác dụng này như bài tập về nhận biết, tách chất, điều chế. hoặc bài toán hoá học.
SITH: Nguyễn Thị Nhã Trang 5 Luận văn (6t nghiệp GVHD: Cô Vũ Thị Thơ 4. Bài tập hóa học thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện các k¥ năng kỳ xảo về hoá học: Rèn luyện được những kỹ năng kỹ xảo cẩn thiết vé hoá học như kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học, lập công thức, cân bằng phương trình phản ứng .kỹ năng tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học; các tính toán đại số:quy tắc tam suất,giải phương trình và hệ phương trình; kỹ năng nhận biết các hoá chất góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho hoc sinh. Ví dụ: Cho axit Sunfuric đặc tác dụng với 58,Sg Natri Clorua, đun nóng. Hoa tan khí tạo thành vào 146 gam nước.
Tính néng độ phần trăm của dung dịch thu được. Bài toán này đòi hỏi học sinh trong quá trình làm bài tập phải hiểu những từ ngữ hoá học (nồng độ phan trăm, axit Sunfuric đặc.), viết được công thức hoá học của axit và muối, viết được phương trình phản ứng và tính toán theo phương trình phản ứng đó để tìm ra số mol của Natri Clorua, của khí HCI sinh ra và dựa vào các công thức hoá học (công thức vé số mol.vé nồng độ phan trăm.) để giải được bài toán. Qua việc thường xuyên giải các bài tập hoá học. lâu dan học sinh sẽ thuộc các ký hiệu hoá học, nhớ hoá trị, số oxi hoá của các nguyên tố.
Bài tập hoá học tạo điều kiện để tư duy phát triển: Bài tập hoá học phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện trí thông minh cho học sinh. Khi giải một bài tập, học sinh được rèn luyện các thao tác tư duy như phân tích. tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp. Một bài tập có thể có nhiều cách gải khác nhau: Có cách giải thông thường theo các bước quen thuộc, nhưng cũng có cách giải ngấn gọn mà lại chính xác.
Qua việc giải nhiều cách khác nhau, học sinh tìm ra được cách giải ngấn mà hay, điểu đó sẽ rèn luyện được trí thông mình cho các em. Ví dụ: Cho 20,4g MCO,(M là kim loại hoá trị 2) tác dụng dung dịch HC! dư tạo 4,481 khí CO; bay ra (đktc). Tính khối lượng muối tạo thành. Bài toán đòi hỏi học sinh phải viết được phương trình phản ứng và tìm cách tính khối lượng muối sinh ra theo một phương pháp nào ngắn gọn nhấtLỞ đây có rất nhiều phương pháp giải hoặc là viết phương trình phan ứng, từ nụ, =n„„„ ban đẩu, từ đó suy ra khối lượng phân tử MCOs, xác định được khối lượng nguyên tử của kim loại M, dựa vào n,„ suy ran,„,,.
kết hợp với khối lượng phân tử MCI; sẽ xác định được khối lượng muối sinh ra.Hoặc học sinh có thể dùng phương pháp bảo toàn khối lượng hợp chất trước phản ứng và sau phản ứng, SVTH: Nguyễn Thị Nhã Trang 6 Luan văn tót nghiệp GVHD: Cé Vi Thị Thơ WW Neo, suy ram, ¿, Myc, tham gia phản ứng, khối lượng CO;. Bảo toàn khối lượng ta CÓ: Neo, => nucọ,.