Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN 1. Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận 1. Khái niệm Theo [22, tr.9-10]: “ TN khách quan (TNKQ) là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi TN khách quan. TN tự luận (TNTL) là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, HS trả lời dưới dạng bài viết bằng ngôn ngữ của mình trong một khoảng thời gian định trước”.
Ưu nhược điểm của trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận Chúng ta không thể khẳng định rằng phương pháp TN nào là tốt nhất, tùy vào trường hợp cụ thể, mỗi phương pháp sẽ có những ưu điểm nổi bật được trình bày trong Bảng 1. Bảng so sánh TNKQ và TNTL ƯU ĐIỂM NỘI DUNG TNKQ TNTL 1. Ít tốn công ra đề thi X 2. Đánh giá khả năng diễn đạt, tính sáng tạo X 3.
Đánh giá kĩ năng viết, kĩ năng trình bày X 4. Dễ phản hồi thông tin đến người học X 5. Đề thi phủ kín môn học X 6. Ít tốn công chấm thi X 7.
Khách quan trong chấm thi, độ tin cậy cao X 8. Ra nhiều đề thi có độ khó tương đương X 9. Hạn chế học tủ X 10. Dễ đánh giá sự tiến bộ người học X Theo tác giả Lâm Quang Thiệp [25, tr.11] và Dương Thiệu Tống [26, tr.
10-11-12]: Phương pháp TNKQ nên dùng trong những trường hợp sau: Khi số HS cần kiểm tra quá đông; Khi muốn chấm bài nhanh; Khi muốn có điểm số đáng tin cậy. không phụ thuộc vào người chấm; Hạn chế sự gian lận trong thi cử; Muốn kiểm tra phạm vi kiến thức rộng, hạn chế học tủ, học vẹt và hạn chế tối đa sự may rủi. Phương pháp TNTL nên dùng trong các trường hợp sau: Khi thí số lượng HS không quá đông; Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt; Khi muốn tìm hiểu ý tưởng, phát huy tính sáng tạo của HS; Khi có thể tin tưởng vào khả năng chấm bài của GV là chính xác; Khi không có nhiều thời gian để soạn đề nhưng có nhiều thời gian chấm bài. Các hình thức câu trắc nghiệm khách quan và nguyên tắc biên soạn câu trắc nghiệm Theo tác giả Dương Thiệu Tống [26, tr.47]: “Các câu hỏi TN có thể được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau.
Hình thức nào cũng có những ưu điểm của nó, và vấn đề quan trọng đối với người soạn thảo là biết công dụng của mỗi loại để lựa chọn hình thức câu TN nào thích hợp nhất cho việc khảo sát khả năng hay kiến thức mà ta dự định đo lường”. Đa số các tác giả đều phân chia các câu TN thành 4 loại theo Bảng 1. Phân loại câu trắc nghiệm TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN Câu TN Câu TN Câu Câu đúng sai nhiều lựa chọn ghép đôi điền khuyết 1. Câu trắc nghiệm đúng – sai a.
Hình thức câu trắc nghiệm Loại này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và HS phải trả lời bằng cách lựa chọn Đúng (Đ) hoặc Sai (S). Ví dụ: Hãy đánh dấu X vào ô trống nếu các câu sau đây là Đ hoặc S: Nội dung Đ S A. Oxit axit là những oxit tác dụng với dung dịch bazơ tạo x thành muối và nước. Có thể dùng dung dịch Ca(OH)2 để tách khí CO ra hỗn x hợp khí CO2 và CO.
Bột CuO tác dụng được với nước tạo thành Cu(OH)2. Al2O3, ZnO có thể tác dụng được với dung dịch bazơ x tạo thành muối và nước. Ưu nhược điểm của loại câu hỏi đúng – sai Ưu: Đây là câu hỏi đơn giản nhất để TN kiến thức về những sự kiện; Ít tốn thời gian. Nhược: Có sự may rủi, sự đoán mò đúng đến 50%, độ tin cậy thấp.
Gây tác dụng ngược vì HS có thể nhớ những câu phát biểu sai. Phân tích: Trong câu TN trên, Câu A, GV lấy nguyên văn có sẵn trong sách giáo khoa hóa 9, câu hỏi này không đánh giá trình độ HS. Chỉ nên dùng khi cần HS thuộc một số kiến thức cơ bản nào đó. Câu D, GV dựa vào nguyên văn nội dung trong sách giáo khoa hóa 9, nhưng có biến đổi chút ít.
Sự đầu tư vào câu hỏi không nhiều. Câu B và C, GV có sự đầu tư, chỉ cần dựa vào tính chất hóa học, GV có thể xây dựng được một câu hỏi đúng sai. Vì vậy không cần nhiều thời gian, GV có thể soạn rất nhiều loại câu hỏi này. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi đúng – sai Các câu hỏi loại đúng – sai chỉ nên mang một ý tưởng chính yếu, không nên có hai hay nhiều ý tưởng trong mỗi câu.
Tránh dùng những chữ như: “luôn luôn”, “tất cả”, “không bao giờ”, “không thể được”, “chắc chắn”, vì các câu mang các từ này thường có triển vọng sai. Ngược lại, những chữ như: “thường thường”, “đôi khi”, “ít khi” lại hay đi đôi những câu trả lời đúng. Viết đúng văn phạm. Tránh để HS chọn “sai” chỉ vì cách diễn đạt của GV không chính xác.
Không nên trích nguyên văn câu hỏi từ sách giáo khoa, nên diễn tả lại các điều đã học dưới dạng những câu mới và yêu cầu áp dụng kiến thức đã học. Tránh để HS đoán câu trả lời đúng nhờ chiều dài câu hỏi. Số câu đúng và số câu sai nên gần bằng nhau. Câu điền khuyết a.
Hình thức câu trắc nghiệm Người làm bài phải điền vào chỗ trống những từ hoặc nhóm từ phù hợp. Các câu điền khuyết thường có hai dạng: a. Câu điền khuyết không có sẵn các từ khóa Ví dụ: Hãy chọn các từ thích hợp điền vào những chỗ trống sau: a) Trong một chu kì, khi đi từ đầu tới cuối chu kì: Số electron ở lớp ngoài cùng của nguyên tử …(tăng dần)…từ 1 đến 8. Tính kim loại của các nguyên tố …(giảm dần)…, đồng thời tính phi kim… (tăng dần) ….
b) Trong một nhóm, khi đi từ trên xuống dưới theo chiều tăng của điện tích hạt nhân: Số lớp electron của nguyên tử …(tăng dần)…, tính kim loại của các nguyên tố …(tăng dần)… đồng thời tính phi kim của các nguyên tố …(giảm dần)… - Với loại câu điền khuyết, GV không cần phải tốn thời gian soạn câu, GV lấy nguyên nội dung trong sách giáo khoa hóa 9, chỉ cần bỏ đi một số từ khóa quan trọng. - HS chỉ cần thuộc nội dung bài học có thể trả lời, tuy nhiên với câu hỏi này, cũng sẽ gây khó khăn cho những HS chưa hiểu kĩ bài, có thể nhầm lẫn giữa các từ khóa. Câu điền khuyết có sẵn từ khóa Ví dụ 1: Số từ khóa cho sẵn và bằng với số từ trong đáp án nước kim loại oxit axit, axit, bazơ Chọn các từ thích hợp vào các ô trống trong các câu sau: Oxit bazơ là oxit của …(1)…và tương ứng với một …(2)… Oxit bazơ tác dụng với …(3)…tạo thành dung dịch bazơ (kiềm), tác dụng với …(4)….tạo thành muối và nước, tác dụng với …(5)…tạo thành muối. Trường hợp này, HS chỉ cần điền đúng một số ô trống, là có thể đoán được các từ khóa còn lại phải điền vào.
Như vậy xác suất đoán mò cao. Ví dụ 2: Số từ khóa cho nhiều hơn số từ trong đáp án nước, oxit bazơ, kim loại, phi kim, axit, bazơ, oxit axit oxit bazơ, axit Chọn các từ thích hợp vào các ô trống trong các câu sau: Oxit bazơ là oxit của …(1)….và tương ứng với một …(2)… Oxit bazơ tác dụng với …(3)…tạo thành dung dịch bazơ (kiềm), tác dụng với …(4)….tạo thành muối và nước, tác dụng với …(5)…tạo thành muối. So với ví dụ 1, trường hợp này xác suất đoán mò không cao, HS có nguy cơ sai nhiều hơn nếu như HS đó không thuộc kĩ bài học. Tuy nhiên trong trường hợp có quá nhiều từ để gây nhiễu, HS sẽ mất thời gian đọc các từ khóa.
Ưu nhược điểm của câu điền khuyết Ưu: HS có cơ hội phát huy óc sáng kiến; Dễ soạn câu hỏi; Đánh giá mức hiểu biết về các nguyên lý, giải thích dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ; Giúp HS rèn luyện trí nhớ. Nhược: Phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn vào các chi tiết độ đo giá trị thấp; Chấm bài mất nhiều thời gian hơn so với các câu TN khách quan khác; c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi điền khuyết Lời chỉ dẫn phải rõ ràng. Chỉ nên chừa trống các chữ quan trọng.
Trong những bài TN dài có nhiều chỗ trống GV nên đánh số thứ tự các chỗ trống để điền, khoảng cách trống nên có chiều dài bằng nhau để HS không đoán được các chữ phải trả lời. Câu ghép đôi a. Hình thức câu trắc nghiệm Là một dạng đặc biệt của hình thức TN. Trong loại này có hai cột gồm những thông tin về kiến thức.
người làm bài phải chọn những phương án ở hai cột để ghép với nhau cho phù hợp. Khi nội dung cần ghép ở 2 cột bằng nhau Ví dụ 1: Hãy ghép các nội dung ở cột (I) với một nội dung ở cột (II) cho phù hợp CỘT (I) CỘT (II) 1. CaO tác dụng với nước A. xuất hiện kết tủa trắng.
Dẫn từ từ khí CO2 vào cốc đựng B. không có hiện tượng gì. dung dịch nước vôi trong, C. xuất hiện bọt khí.
Cho dung dịch BaCl2 vào dung dịch D. tạo thành dung dịch làm HNO3, quỳ tím hóa xanh, tỏa nhiều 4.Cho mãnh kẽm vào dung dịch axit HCl nhiệt. Khi nội dung cần ghép ở hai cột không bằng nhau Ví dụ 2: một nội dung ở cột I ghép với một nội dung cột II CỘT (I) CỘT (II) 1. Cho Na vào nước, A.
xuất hiện kết tủa xanh. Dẫn từ từ khí CO2 vào cốc đựng B. xuất hiện bọt khí, dung dịch tạo dung dịch nước vôi trong thành làm quỳ tím hóa xanh. Cho dây nhôm vào dung dịch C.
xuất hiện kết tủa trắng. Không có hiện tượng gì. Cho dung dịch CuSO4 vào dung E. xuất hiện bọt khí.
dịch NaOH, Đáp án: 1B; 2C; 3E; 4A Ví dụ 3: một, hai nội dung nội dung ở cột I có thể ghép với một nội dung cột II CỘT (I) CỘT (II) 1. Cho Na vào nước, A. xuất hiện kết tủa xanh. Dẫn khí từ từ CO2 vào cốc đựng B.
xuất hiện bọt khí, dung dịch tạo dung dịch nước vôi trong, thành làm quỳ tím hóa xanh. Cho dây nhôm vào dung dịch C. xuất hiện kết tủa trắng. không có hiện tượng gì.
Cho mãnh kẽm vào dung dịch axit E. xuất hiện bọt khí.