Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LOẠI TỘI PHẠM 1. Khái niệm, ý nghĩa của phân loại tội phạm 1. Khái niệm phân loại tội phạm Trước khi tìm khái niệm phân loại tội phạm thì một vấn đề cần quan tâm đó là tìm hiểu khái niệm tội phạm. Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự.
Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật Hình sự (BLHS), tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật Hình sự. Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức không có điều luật về khái niệm tội phạm nhưng có cả một chương quy định về hành vi phạm tội.
Trong đó, các quy định tập trung vào các vấn đề như: chủ thể của tội phạm, vấn đề lỗi và các trường hợp sai lầm, vấn đề thực hiện qua không hành động và vấn đề thực hiện cho người khác, các căn cứ biện hộ (các căn cứ loại trừ tính trái pháp luật của hành vi), phạm tội chưa đạt, người thực hiện phạm tội và người tòng phạm 37. Hay như ở Cộng hòa Pháp, trong Phần chung của Bộ luật Hình sự không nêu các dấu hiệu của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại Phần các tội phạm lại quy định các dấu hiệu của hành vi phạm tội như: mức độ nghiêm trọng của thiệt hại gây ra cho cá nhân, xã hội, Nhà nước (Điều 111 – 1); tính trái pháp luật và tính phải chịu hình phạt của hành vi (Điều 111 – 2, 111 – 3); tính có lỗi cố ý hoặc vô ý của hành vi (Điều 121 – 3) 16. Và ở luật hình sự nước Anh không quy định khái niệm tội phạm và dấu hiệu của một số tội cụ thể được quy định trong các đạo luật hình sự chuyên biệt.
Bên cạnh đó, ở một số quốc gia có quy định khái niệm tội phạm trong Luật hình sự và cách thể hiện khái niệm tội phạm cũng có nhiều điểm khác nhau, có 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những quốc gia chỉ quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức, có những quốc gia quy định khái niệm tội phạm với sự kết hợp dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung. Thứ nhất, quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức Ngay từ thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, với tư tưởng đề cao vai trò của tự do dân chủ và bình đẳng, tư tưởng nhà nước pháp quyền thì quan niệm con người được phép làm những gì pháp luật không cấm… được thể hiện rất rõ nét trong khái niệm tội phạm. Do đó, khái niệm tội phạm trong Bộ luật Hình sự ở một số nước tư sản đã được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị đạo luật hình sự cấm hoặc là “vi phạm pháp luật bị Bộ luật Hình sự trừng trị” hoặc là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt”… Theo các luật gia tư sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình quy định. Trong khái niệm tội phạm này tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm.
Thực hiện nguyên tắc “không có tội phạm nếu điều đó không bị cấm trong Bộ luật Hình sự”, các luật gia tư sản chứng minh được thế tiến bộ của nước mình trước luật hình phong kiến 55. Cho tới nay, trong Bộ luật Hình sự ở một số nước cũng vẫn quy định tội phạm dưới dạng hình thức là hành vi do Luật định. Cụ thể như: tại Điều 1 BLHS Thụy Điển quy định: “Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bản pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Luật này” 51. Điều 10 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Tây Ban Nha thì tội phạm là hành vi bằng hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Thụy Sĩ, chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật Hình sự cấm bằng nguy cơ bị áp dụng hình phạt mới phải chịu hình phạt. Thứ hai, quy định khái niệm tội phạm với sự kết hợp cả dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung Hiện nay, cùng với dấu hiệu hình thức, ở một số nước đã đưa dấu hiệu nội dung vào khái niệm tội phạm. Tội phạm không chỉ là hành vi được luật hình quy định mà 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Các khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự thể hiện ở hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát về tội phạm.
- Khái niệm đầy đủ về tội phạm: Trong khái niệm này các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm. Một số cho rằng “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người ở một độ tuổi luật định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tội phải bị xử phạt”. Theo khái niệm nêu trên, tội phạm được đưa ra với đầy đủ các dấu hiệu của nó là: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự; Tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến một độ tuổi nhất định thực hiện; tội phạm được thực hiện do cố ý hoặc vô ý (có lỗi) và người phạm tội phải bị xử phạt. Điều 14 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996, sửa đổi năm 2010 quy định: “Tội phạm là hành vi có lỗi gây nguy hiểm cho xã hội, bị cấm bởi Bộ luật Hình sự và phải chịu hình phạt.
Hành động (hoặc không hành động), mặc dù về hình thức có bao hàm những dấu hiệu của một hành vi nào đó được Bộ luật này quy định nhưng do tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm”54. Cùng với quan điểm như trên, những người khác không coi tình tiết phải bị xử phạt là dấu hiệu của tội phạm, và vì vậy không đưa đặc điểm này vào khái niệm đầy đủ về tội phạm. Những tác giả này cho rằng: phạm tội thì không tránh khỏi phải chịu hình phạt, đó là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật hình sự. Phải chịu xử phạt, đó là hậu quả tất yếu của việc thực hiện tội phạm chứ chính nó không phải là thuộc tính của tội phạm.
Mặt khác, trong thực tế có nhiều trường hợp tội phạm không bị xử phạt do nhiều nguyên nhân khác nhau (quá thời hiệu, không khám phá được, được miễn trách nhiệm hình sự…), vậy thì trong những trường hợp ấy hành vi có được coi là tội phạm hay không nếu có đủ các yếu tố cấu thành. Thực vậy, khi một người thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì hành vi đó đã là tội phạm, không phụ thuộc người đó có bị xử phạt hay 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều 13 Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi năm 2005 quy định: “Mọi hành vi gây nguy hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia; chia cắt quốc gia; lật đổ chính quyền chuyên chính dân chủ nhân dân và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa; phá hoại trật tự kinh tế xã hội; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu nhà nước và tài sản thuộc sở hữu tập thể của quần chúng lao động; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân; xâm phạm các quyền nhân thân dân chủ và các quyền khác của công dân cũng như các hành vi khác gây nguy hại cho xã hội được quy định là tội phạm. Những hành vi nhỏ nhặt gây hại không lớn thì không phải là tội phạm” 9.
- Khái niệm tổng quát về tội phạm: Những người có quan điểm này cho rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy định hay nói cách khác tội phạm có hai đặc tính cơ bản: nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hình thức được Bộ luật Hình sự quy định. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng tuy là khái niệm được đưa ra mang tính khái quát cao nhưng nó vẫn thể hiện đầy đủ các đặc điểm của tội phạm. Không phải bất kỳ một hành vi nguy hiểm nào (tức gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại) cũng là tội phạm. Chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội mới được quy định là tội phạm.
Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm cả hai mặt: mặt thực tế (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) và mặt xã hội. Khái niệm tội phạm có thể được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Khái niệm này một mặt là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, mặt khác trực tiếp thể hiện một cách rõ nét những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam và là cơ sở để quy định các chế định khác của Luật hình sự, trong đó có phân loại tội phạm. Nội dung của khái niệm tội phạm xác định giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác.
Khái niệm tội phạm là cơ sở để xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể với ý nghĩa là mô hình pháp lý của từng loại tội phạm và qua đó cũng là cơ sở để quy định khung hình phạt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương ứng.