đặt vấn đề là từ đầu….đến trường cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội Gv: À, đúng rồi! Sv: Phần thứ 2 là phần giải quyết vấn đề, tiếp theo từ thành phần tham dự ….đến sự có mặt của ông là niềm vinh hạnh cho chúng tôi. Phần cuối cùng là kết thúc vấn đề ạ Gv: Cám ơn em! mời em ngồi! Bạn trả lời rất đúng. Cô hoan nghênh tinh thần học tập của bạn Hà ngày hôm nay, phần bài cũ bạn Hà trả lời rất đúng, phần bài mới bạn Hà cũng rất tập trung trả lời câu hỏi của cô. [Tiết soạn thảo văn bản của sinh viên năm thứ nhất] Ở ví dụ này có 5 lượt lời.
Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên. Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên xác nhận trực tiếp khi học sinh có câu trả lời đúng. Lượt lời thứ 4 học sinh tiếp tục trả 12 lời câu hỏi của giáo viên ở lượt lời 1.
Lượt lời thứ 5 giáo viên xác nhận câu trả lời đúng của sinh viên bằng cách khen ngợi. 3- Lặp lại câu trả lời đúng: Trong rất nhiều trường hợp, giáo viên xác nhận câu trả lời/phần thực hiện đúng của học sinh bằng việc giáo viên đơn thuần lặp lại (với ngữ điệu khẳng định) câu trả lời đó. Cũng có khi hành động lặp lại câu trả lời đúng được thực hiện cuàng với (trước hoặc sau) hành động xác nhận trực tiếp. Ví dụ 5: Gv: Các em hãy đọc kỹ câu trên và xác định cho cô những chữ, những âm tiết được viết hoa.
Cô mới bạn Quỳnh nào? Sv: Em thưa cô những âm tiết được viết hoa là “tập” “nhật” Gv: Thứ nhất là “tập”, thứ hai là “nhật” [Tiết Tiếng việt thực hành của sinh viên năm thứ hai] Ví dụ trên có 3 lượt lời. Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên. Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên xác nhận câu trả lời đúng của sinh viên bằng cách nhắc lại câu trả lời đúng của sinh viên.
4- Xác nhận gián tiếp bằng chuyển lượt lời: chiến lược này được giáo viên sử dụng khá thường xuyên, đặc biệt trong lúc kiểm tra bài cũ hay luyện tập. Giáo viên thường xác nhận câu trả lời đúng của học sinh bằng việc không có nhận xét gì và chuyển ngay sang một câu hỏi khác hoặc hỏi một học sinh khác. Ví dụ 6: Gv: Trước khi quyết định mua sản phẩm anh, chị thường tham khảo nguồn thông tin từ đâu? - Các sản phẩm hiện nay gần với sinh viên nhất là điện thoại, máy tính, vậy trước khi đưa ra quyết định mua sản phẩm này, các em thường tham khảo nguồn thông tin từ đâu? Cô mời đại diện nhóm bạn Huyền nào? 13 Sv: Em thưa cô, chúng em thường tham khảo các nguồn thông tin từ internet, bạn bè, gia đình ạ Gv: Em có tìm hiểu mua sản phẩm gì không? [Tiết Marketing căn bản của sinh viên năm thứ hai] Ở ví dụ này có 3 lượt lời. Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên.
Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên xác nhận câu trả lời đúng của sinh viên bằng cách chuyển sang một câu hỏi khác mà không nhận xét gì. 5- Xác nhận bằng câu hỏi siêu ngôn ngữ: Đôi khi, đặc biệt khi câu hỏi thuộc loại khó, giáo viên không trực tiếp xác nhận câu trả lời đúng của học sinh mà yêu cầu các em học sinh khác nhận xét xem câu trả lời đó có đúng hay sai. Ví dụ 7: Gv: Các em cho cô biết lao động nữ khi sinh con được nghỉ bao nhiêu tháng? Cô mời em! Sv: Em thưa cô 6 tháng ạ! Gv: 6 tháng phải không cả lớp? Sv: Vâng ạ! [ Tiết Quản trị nhân lực của sinh viên năm thứ 3] Ở ví dụ này có 4 lượt lời.
Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên. Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên đã xác nhận câu trả lời đúng của sinh viên bằng cách không trực tiếp nói nhận xét mà yêu cầu các bạn trong lớp xác nhận bằng cách giáo viên đưa ra một câu hỏi siêu ngôn ngữ. Lượt lời thứ tư, các sinh viên khác xác nhận câu trả lời đúng của sinh viên ở lượt lời thứ 2.
Lời phản hồi tiêu cực có 6 loại: 14 1- Chê, phê bình trực tiếp: Giáo viên nói thẳng ra là câu trả lời của học sinh không đúng hoặc phần thực hành chưa tốt kèm theo đánh giá của mình. Ví dụ 8: Gv: Lớp trưởng trợ giúp bạn nào? Thành trả lời cho cô ý thứ nhất là “ bên bị vi phạm muốn bên vi phạm bồi thường cho mình thì phải đưa ra những căn cứ hay chứng minh cho bên ci phạm để họ bồi thường. Một là gì nào? Sv: em thưa cô một là mức độ thiệt hại về tài sản Gv: hai nữa là gì? Sv: hai là ừm…………(không trả lời được) Gv: đấy! lớp trưởng cũng chưa nhớ đâu! Rồi, bạn Chinh đứng lên trả lời cho cô nào? [Tiết Luật thương mại của sinh viên năm thứ 3] Ở ví dụ này có 5 lượt lời. Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên.
Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 tiếp tục là một câu hỏi gợi mở kiến thức của giáo viên, giúp sinh viên khám phá bài học. Lượt lời thứ 4 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 5 giáo viên đã nói thẳng là sinh viên chưa nhớ bài.
2- Sửa lỗi trực tiếp: Giáo viên nói rõ học sinh sai ở đâu và cung cấp phương án đúng hoặc nhấn mạnh lại câu hỏi hay yêu cầu học sinh tự sửa lại lỗi của mình. Ví dụ 9: Gv: Nhóm bạn Hiền sửa phần nội dung nào? Sv: em thưa cô là yếu tố số 7 ở phần thể thức của nhóm bạn Minh chính bày em nghĩ là ký thay mặt là đúng rồi không sai ạ Gv: theo em thay mặt là đúng, vì sao? Sv: Em nghĩ trong trường hợp này là ký theo hình thức thay mặt mới đúng ạ 15 Gv: Cám ơn Hiền, mời Hiền ngồi xuống. Phần này phải ký là “thừa lệnh” chứ không phải ký “thay mặt”, vì đây là cấp dưới ký thừa lệnh cấp trên, trường hợp ký “thay mặt” chỉ ký khi thay mặt một tập thể. [Tiết Soạn thảo văn bản của sinh viên năm thứ nhất] Ví dụ trên đây có 5 lượt lời.
Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên. Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên yêu cầu sinh viên giải thích thêm về câu trả lời. Lượt lời thứ 4 là câu trả lời của sinh viên.
Lượt lời thứ 5 giáo viên đã nhấn mạnh cho sinh viên biết đã sai đồng thời sửa luôn lỗi sai cho sinh viên. 3- Lặp lại câu trả lời của học sinh nhưng đã sửa lại phần mắc lỗi cho đúng: Ví dụ 10: Gv: Các em hãy cho cô biết, hiện nay lao động nữ trong thời gian nghỉ sinh con được nghỉ bao nhiêu tháng? Sv:(đồng thanh):6 tháng ạ Gv: 6 tháng. Trước đây là được nghỉ 4 tháng, sau được nâng lên 2 tháng là 6 tháng [Tiết Quản trị nhân lực của sinh viên năm thứ 3] Ở ví dụ này có 3 lượt lời. Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên.
Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên lặp lại câu trả lời của học sinh nhưng đã sửa lại phần mắc lỗi cho đúng. 5- Phản hồi siêu ngôn ngữ: Giáo viên không chỉ ra lỗi của học sinh mà yêu cầu học sinh tự sửa lỗi Ví dụ 11: Gv: Sản phẩm có giá trị kỳ vọng cao nhất có phải là sản phẩm được mua hay không? Nhóm Huyền nào? Sv: Em thưa cô sản phẩm có kỳ vọng cao nhất sẽ được mua ạ! 16 Gv: tức là có Sv: Vâng ạ! Gv: Nhóm Dung nào? [Tiết Marketing căn bản của sinh viên năm thứ hai] Ví dụ trên đây có 5 lượt lời. Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên.
Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên xác nhận lại chính xác câu trả lời của sinh viên bằng cách đặt câu hỏi. Lượt lời thứ 4 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 5 giáo viên không trực tiếp chỉ ra lỗi của của sinh viên mà yêu cầu sinh viên khác tìm lỗi và sửa lỗi.
6 – Nhắc lại lỗi của học sinh: với ngữ điệu hoài nghi nhấn mạnh hoặc thêm các tiểu từ hỏi cuối câu để thể hiện sự hoài nghi, giải thích lỗi và đưa ra các phương án đúng hoặc yêu cầu học sinh khác trả lời lại câu hỏi. Ví dụ 12: Gv: Mời bạn Phương nào? em có đồng quan điểm với bạn Việt hay không hay có quan điểm khác. Sv: Em thưa cô em đồng quan điểm với bạn Việt ạ Gv: tức là em cũng sẽ đứng nói chuyện trong trường hợp này? Sv: vâng ạ Gv: có bạn nào có ý kiến khác không? [ Tiết Kỹ năng giao tiếp và thuyết trình của sinh viên năm thứ nhất] Ví dụ trên đây có 5 lượt lời. Luợt lời thứ nhất là câu hỏi của giáo viên.
Luợt lời thứ 2 là câu trả lời của sinh viên. Lượt lời thứ 3 giáo viên xác nhận lại chính xác câu trả lời sai của học sinh với ngữ điệu hoài nghi. Lời phản hồi trong lý thuyết phân tích diễn ngôn Trong việc nghiên cứu về ngôn ngữ lớp học, hiện nay có 3 cách tiếp cận chính để khảo sát, nghiên cứu tương tác lớp học đó là cách tiếp cận phân tích tương tác, cách tiếp cận phân tích diễn ngôn và cách tiếp cận phân tích 17 hội thoại. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định cách tiếp cận “phân tích diễn ngôn” sẽ được chúng tôi áp dụng để tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ phản hồi của giáo viên trên lớp học.
Cách tiếp cận phân tích diễn ngôn là phương pháp dựa trên các nguyên tắc của ngôn ngữ học cấu trúc chức năng, bao gồm cả miêu tả, đề ra quy tắc và cố gắng để phân loại các kiểu tương tác tự nhiên và giải thích chúng bằng một hệ thống phân cấp diễn ngôn. Trong những năm 70 của thế kỉ trước, tổ chức nghiên cứu tiếng Anh ở trường đại học Birmingham (Anh) tiến hành nghiên cứu các diễn ngôn nói. Năm 1975 Sinclair và Coulthard đã công bố công trình “ Hướng tới việc phân tích diễn ngôn – Toward an analysis of discouse” trong đó miêu tả mô hình các cuộc hội thoại giữa thầy giáo và học sinh trong giờ học.