phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương, 4 tiết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@a 8 C hưưng1 THỰC CHẤT CỦA S ự PHÂN HOÁ GIÀU - NGHÈO VÀ THỰC TRẠNG PHÂN HOÁ GIÀU - NGHÈO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Thực chất của sự phân hoá giàu-nghèo Phàn hóa giàu - nghèo là hiện tượng xã hội phổ biến kê từ khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp cho đến nay. Giờ đây, trong kỷ nguyên toàn cầu hoá và đô thị hoá đang ngày càng phát triển, xã hội loài người nói chung khá sung mãn về đời sống vật chất và có nhu cầu cao về đời sống văn hoá, tinh thần, nhưng bên cạnh đó, vẫn phải đối mặt với đói nghèo và vấn đề phân hoá giàu- nghèo đang ngày càng trở nên bức xúc đối với cả cộng đồng nhân loại.
Khoảng cách về đời sống và chất lượng sống giữa người giàu và người nghèo ngày càng cách xa. Vấn đề này không chi tổn tại ở những nước nghèo mà còn ở cả những nước phát triển. Ví dụ ở Mỹ- một nước giàu nhất thế giới, người giàu chỉ chiếm 0,5% dân số, song họ lại chiếm tới 45% tài sản quốc gia, họ có 96% cổ phiếu và trái phiếu trên toàn nước Mỹ. Được thừa nhận là nước giàu, nhimg ở nước Mỹ, người nghèo thất nghiệp vẫn chiếm 16% tổng dân sô' (dữ liệu 1995), trong đó người da đen chiếm 40%; 35 triệu người sống dưới mức nghèo khổ theo chuẩn định của Liên Hợp Quốc (thu nhập 2 đôla/ người/ngày); khoảng 10 triệu người vô gia cư và ở đây hàng loạt nhữno tệ nạn xã hội khác vẫn thườns xuyên diễn ra [Xem: 20.
Việc xem xét vấn đề giàu- nghèo là hết sức phức tạp.Vì sao nhân loại cùng được sinh ra nhưng có người giàu, lại có người nghèo? Phải chăng ai vẫn còn phải lo toan cho bữa ăn thì người đó là người nghèo. Phải chăng cuộc sống đối với người giàu mới là cuộc sống, còn đối với người nshèo thì đó chí là sự sinh tồn mà thôi. Trong hoàn cảnh vật chất dồi dào, khái niệm người nghèo, người giàu nên xác định như thế nào? Phải chăng nsười có thu nhập thấp, ít của cải thì gọi là nghèo. Phải chàng họ giàu nhưng khỏns tự nhận là giàu thì cũng gọi là nghèo.
Nhìn bề ngoài chúng ta khó có thể phàn biệt được ai là giàu, ai là nghèo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@a 9 ở nước ta hiện nay, khái niệm giàu- nghèo cũng chi mang ý nghĩa tương đối. ở những nơi giàu có, một người dù có xe máy, có nhà đẹp vẫn có thể thuộc lớp người có thu nhập thấp và vất vả vật lộn với cuộc sống( vì họ có thể vay tiền để mua). Nhưng ở một nơi nghèo khó khác, họ lại có thể được coi là người giàu.
Giàu- nghèo là tên gọi cụ thể ở thang bậc khác nhau của cuộc sống. Mặt khác, hiện tượng giàu- nghèo bao giờ cũng là một hiện tượng xã hội phức tạp, bao gồm nhiều nhân tố: giàu-nghèo về kinh tế, giàu- nghèo về văn hoá, giàu-nghèo về kiến thức, giàu- nghèo về sức khoẻ,. Để giải quyết vấn đề phân hoá giàu - nghèo trong xã hội đương đại, chúng ta cần giải quyết vấn đề giàu- nghèo ớ góc độ kinh tế (thu nhập thực tế trong hộ gia đình). Vì thu nhập thực tế phản ánh mức sống, mức sinh hoạt và có liên quan đến việc chi tiêu, đến phong cách sống, kế mưu sinh,.
của mỗi gia đình, mỗi người dân. Tuy nhiên, giàu - nghèo ở đây chỉ được xác định một cách tương đối, vì luôn có sự biến động về tỷ lệ và khoảng cách giàu - nghèo theo thời gian. Theo tác giả Nguyễn văn Tiêm, để xác định hộ giàu ở nông thôn nước ta( 1992) cần căn cứ vào mức thu nhập tính bình quân 1 nhàn khẩu/1 năm, và tham khảo các tiêu chuẩn khác như: các tiện nghi phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình ( nhà ở, đồ dùng trong nhà); mức chi tiêu đời sống vật chất tinh thần của chủ hộ; mức tích luỹ hàng năm của hộ. Mặc dù theo cách tính này con số cụ thể còn chưa cập nhật, nhưng theo cách xác định hộ giàu này cũng được nhiều nhà khoa học chấp nhận [Xem: 56].
Hơn nữa, tiêu chuẩn xác định giàu - nghèo cũng thường không thống nhất và không nhất quán giữa các quan niệm khác nhau. Việc khảo sát thu nhập, mức sống của người giàu là rất khó, vì những người giàu thường che giấu của cải, mức thu nhập. Theo đó, chuẩn giàu là rất khó xác định. Vì vậy, có thể dùng chuẩn nghèo để phân biệt giàu - nghèo trong xã hội.
Có thể nói, giàu - nghèo và chuẩn nghèo là một khái niệm động, biến đổi theo không gian và thời gian. Có rất nhiều tiêu chí phân loại giàu - nghèo, song người ta thường sử dụng tiêu chí phân loại theo mức sống và thu nhập. Đày là cách phân loại phổ biến nhất trên thế giới hiện nay. Từ góc độ này, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@a 10 việc xem xét các diện mạo khác nhau về giàu - nghèo nói chung, rmười ta thường kết hợp với các yếu tố cải thiện cuộc sống như chi cho ăn uống, học hành, y tế, sức khoẻ, nhà ở,.
Vậy, người nghèo là người như thế nào? Theo UNDP, sự nghèo khổ của con người là thiếu những quyền cơ bản như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ. Từ quan niệm này, người ta xem xét sự nghèo khổ của con người từ các góc độ như nghèo về tiền tệ, nghèo khổ cực độ, nghèo khổ chung, nghèo tương đối, nghèo tuyệt đối. Định nghĩa chung nhất về người nghèo do Hội nghị chống nghèo đói ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9/1993 đưa ra là: “Nghèo là rình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và rhod mãn những nhu cầu cơ bẩn của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh t ế và phong tục tập quán của địa phương"[23, tr. Như vậy, theo cách xác định này, người nghèo ở các nước khác nhau sẽ có mức thu nhập không giống nhau.
Ớ Việt Nam ta, Tổng cục Thống kê dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người để tính tỷ lệ nghèo. Tổng cục Thống kê xác định ngưỡng nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đảm bảo 2100 calo mỗi ngày cho một người. Các hộ được coi là thuộc diện nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không đú để đảm bảo giỏ tiêu dùng này. Các ngưỡng nghèo và khống nghèo được Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới thống nhất công nhận là [Xem: I, tr.6]: Chi tiêu bình quãn đáu người hàng năm 1993(nghln đổng, tính vào thời điểm 1998(nghìn đổng, tính vào thời tháng 1-1993) điềm tháng 1-1998) Ngưỡng nghèo vé lirơns (hục Ihực pham 750 1287(92 USD) Ngưỡng nghèo chung 1 160 1 7SS( 128 USD) Ngưỡng nghèo ở Việt nam trong các năm 1993-1998 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@a Nghèo lương thực, thực phẩm: tỷ lệ này được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời gian đủ để mua lương thực, thực phẩm thiết yếu đám bảo khẩu phần ăn duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng bình quân một người một ngày là 2100 calo.
Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm tính theo thu nhập bình quân một người một tháng qua các năm [Xem: 3, cập nhật 15/4/2005]: 1999(nghìn đồng) 2002(nghìn đổng) 2004 (nghìn đồng) Nông thôn 112 115 124 Thành thị 146 150 163 Những hộ có mức thu nhập bình quàn nhân khẩu dưới chuẩn trên thuộc diện hộ nghèo. Như vậy, tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm từ nãm 1999 đến năm 2004 tuy đã giảm trên phạm vi cả nước, nhưng ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc thì tỷ lệ này còn cao hơn tỷ lệ chung của cả nước. Tỷ lệ nghèo chung được tính theo chuẩn nghèo thống nhất với chuẩn nghèo do Ngàn hàng thế giới đưa ra bao gồm chi tiêu của dân cư về các mặt hàng lương thực, thực phẩm nhằm đảm bảo khẩu phần ăn được duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng bình quân một người một ngày là 2100 calo, cộng thêm một lượng hàng hoá thiết yếu phi lương thực, thực phẩm. Chuẩn nghèo chung tính theo chi tiêu bình quân một người một tháng chung cho cả hai khu vực thành thị, nông thôn năm 1998 là 149 nghìn đồng; 2002 là 160 nghìn đồng; 2004 là 178 nghìn đồng.
Những người có mức chi tiêu bình quân một tháng dưới chuẩn trên được coi là nghèo. Tỷ lệ nghèo chung từ năm 1998 đến năm 2004 đã giảm nhưng vẫn còn cao ở các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Bắc [Xem: 3, cập nhạt 15/4/20051 ■ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xác định chuẩn nghèo dựa trên thu nhập tính bằng lương thực, cụ thể là lương thực quy thóc bình quân đầu người tháng của hộ gia đình. Các hộ được xếp vào diện nghèo nếu thu nhập đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định. Mức chuẩn này là khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi.
Tỷ lệ nghèo được xác định bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@a tỷ lệ dãn số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo. Sử dụng chuẩn nghèo trên, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, trong vòng 5 năm gần đãy, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm đáng kể, từ 19% năm 1996 xuống còn 11% năm 2000. Trong khi đó, theo cách tính của Ngân hàng thế giới dựa trên số liệu điều tra mức sống năm 1993, 1998 và áp dụng chuẩn nghèo chung, thì tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 37% năm 1998 [ Xem: 8, tr. Theo tiêu chí mà Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đưa ra vào năm 1997( trong Thông báo số 175/LĐ- XH ngày 20/5/1997) thì hộ đói là hộ có thu nhập bình quân đầu người 1 tháng quy ra gạo dưới 13 kg (hay 45000đ) đối với mọi vùng; hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng quy ra gạo dưới 15 kg (hay 55000đ) đối với nông thôn miền núi, hải đảo; dưới 20 kg( hay 70000đ) đối với nông thôn đồng bằns, trung du; dưới 25kg (hay 90000đ) đối với thành thị.
Theo tiêu chí này, nãm 1999 cả nước có 13,03% số hộ nghèo [xem: 28.