Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và đề nghị CHƯƠNG 2: TONG QUAN 2. Tông quan tài liệu trong và ngoài nước 2. Tài liệu trong nước Một nghiên cứu của các tác giả Hà Nam Khánh Giao, Nguyễn Phạm Hạnh Phúc, Huỳnh Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Kim Ngân có tên là “Ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến và giá trị cảm xúc đến sự hài lòng của khách du lịch tại tỉnh An Giang”. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến và giá trị cảm xúc đến sự hải lòng của khách du lịch tại An Giang.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên phương pháp thảo luận nhóm cùng với các chuyên gia (các đơn vi kinh doanh lữ hành, nha hàng, khách sạn, cán bộ công tác tại Sở Văn hóa và du lịch An Giang; các nhà khoa học trong lĩnh vực du lịch). Các tác giả tổng hợp thông tin và sử dụng phương pháp phân tích và kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) với sự hỗ trợ của công cụ Smart PLS 3. Với phương pháp chọn mẫu thuận tiện với n=400. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 3 yếu tố đưa vào mô hình (Điều kiện tự nhiên, Tiện nghi du lịch và Giá trị cảm xúc) giải thích được 45,8% sự biến thiên của sự hài lòng của du khách.
Ngoài ra, 2 yếu tố cơ sở hạ tầng và hỗ trợ chính quyền không có ảnh hưởng hay ý nghĩa thông kê đến sự hài lòng của khách du lịch. Cơ sở hạ tầng Điều kiện tự nhiên Tiện nghi du lịch Sự hài lòng của du khách tại tỉnh An Gia tri cảm xúc Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu 5 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách tại An Giang của nhóm tác giả. Nguyễn Huỳnh Phương Thảo và cộng sự (2020), nghiên cứu về các yếu tô ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách nội địa tại thành phố Hồ Chi Minh, đặc biệt là yếu tố hình ảnh thương hiệu điểm đến chưa được quan tâm đúng mức. Nghiên cứu sử dung dir liệu khảo sát 530 du khách nội địa và áp dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA.
Kết quả cho thấy các yếu tô ảnh hưởng đến hai lòng của du khách bao gồm: Hình ảnh thương hiệu điểm đến, Dich vụ đa dạng và hiếu khách, Chỗ ở, thực phẩm, đồ uống, Giao thông và sạch sẽ, Dịch vụ hỗ trợ, Sự kiện và an toan. Trong đó, tat cả các yếu tố đều có tác động cùng chiêu và trực tiếp đến sự hai lòng khách du lịch nội địa tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó Hình ảnh thương hiệu điểm đến có tác động mạnh nhất. Hình ảnh thương hiệu điểm đên Dịch vụ hỗ trợ Sự hai long của du Giao thông và sạch sẽ khách Dịch vụ đa dạng và hiểu khách Chỗ ở, thực phẩm, đồ uống Sự kiện và an toàn Hinh 2.2: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của du khách tại TP.HCM Mục tiêu của nghiên cứu là xem xét sự tác động của hình ảnh điểm đến tới sự hài lòng của du khách nội địa đối với điểm đến du lịch Đồng Tháp. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành thảo luận nhóm mục tiêu gồm 7 du khách dé điều chỉnh thang đo và sau đó (sử dụng phương pháp chọn mẫu định mức được áp dụng) phỏng van trực tiếp 250 du khách nội địa đến với 5 điểm du lich đặc trưng của tỉnh Đồng Tháp.
Tác giả còn chọn phương pháp phân tích dữ liệu dé đánh giá mô hình phương trình cấu trúc theo phương pháp bình phương nhỏ nhất bằng SmartPLS 3. Kết quả nghiên cứu cho tháy Hình ảnh nhận thức là tiền đề dẫn đến việc hình thành hình ảnh cảm xúc, cả hai thành phần hình ảnh cảm xúc và hình ảnh nhận thức đều có tác động trực tiếp và tích cực đến hình ảnh tông thé, chỉ có thành phan hình ảnh nhận thức và hình ảnh tổng thé tác động trực tiếp đến sự hai lòng của du khách. Ngoài ra, trong nghiên cứu này tác giả cũng chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa về sự hài lòng du khách dựa trên đặc điểm giới tính và độ tuổi. của du Hình ảnh khách Tổng thể Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của du khách nội địa tại Đồng Tháp 2.
Tài liệu nước ngoài Nghiên cứu của Bayh va Singh (2020) phân tích đồng thời (i) mối quan hệ giữa các động cơ thúc đầy (thúc đây và kéo), sự hài lòng và ý định hành vi (ý định quay trở lại và sẵn sang giới thiệu), và (ii) tác động trực tiếp và gián tiếp của động cơ đối với ý định hành vi của khách du lịch nội dia trong việc hình thành mô hình hành vi du lịch Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương trình cấu trúc (SEM) sử dụng đữ liệu thu nhập từ 386 khách du lịch nội địa từ bốn điểm đến ở Ethiopia. Két qua cho thay ca động lực du lịch kéo và day đều là những yếu tố dự báo đáng kề về sự hai long tông thé. Mặt khác, sự hài lòng tông thể cũng có ảnh hưởng đến ý định quay lại nhiều hơn so với mức độ sẵn sàng giới thiệu. Sự hài lòng của du khách Động cơ đây trong Sẵn sàng giới thiệu du lịch Động cơ kéo trong Ý định quay trở lại du lịch Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa các hành vi trong du lịch của du khách nội địa tại Ethiopia Trương Thúy Hường và D.
Tuy nhiên, các tác giả sử dụng mô hình gồm 25 thuộc tính tích cực và 8 thuộc tính tiêu cực, được thiết kế phù hợp với điểm đến là Việt Nam. Các thuộc tính được xây dựng dựa trên năm thành phần chủ chốt cấu thành một điểm đến du lịch, đó là: Giao thông Cơ sở vật chất, hạ tầng Sự hai lòng của du khách Yêu tô con người Sự tiện nghi Nơi lưu trú Phương tiện giao thông Hình 2.5: Năm yếu tố của điểm đến trong nghiên cứu của Trương Thúy Hườngvà D.Foster (2006) (Nguồn: Trương Thúy Hường và D. Foster, 2006) Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy có 21 thuộc tính tích cực đạt được sự hai lòng khi điểm trung bình của cảm nhận cao hơn kỳ vọng ban đầu. Có 3 thuộc tính tiêu cực đạt được sự hài lòng khi mức cảm nhận thấp hơn kỳ vọng ban đầu.
Đặc điểm tổng quan về thành phố Đà Lạt 2. Tình hình kinh tế Theo thông kê của ủy ban nhân dân tinh Lâm Đồng, tong lượt du khách qua lưu trú tại Đà Lạt - Lâm Đồng sáu tháng đầu năm 2022 hơn 3,1 triệu lượt, tăng 90,3% so cùng kỳ năm 2021; trong đó, khách quốc tế hơn 14,5 nghìn lượt, tăng 32% so cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 tháng đầu năm 2022 đạt hơn 5.947 tỷ đồng, tăng 54% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, doanh thu tập trung chủ yếu ở dịch vụ ăn uống, với 4.848 tỷ đồng, tăng 48,15% so với cùng kỳ năm 2021(báo Nhân Dân, 07/07/2022).
Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 6 tháng đầu năm 2022 (theo giá so sánh 2010) đạt 21.563 tỷ đồng, tăng 9,29 % so với cùng kỳ năm 2021. Tốc độ tăng trưởng xếp thứ 13 cả nước và thứ nhì vùng Tây Nguyên (sau Kom Tum), trong đó, Số 8 lượng khách du lịch đến Đà Lạt-Lâm Đồng 6 tháng đầu năm 2022 đạt 67,6% kế hoạch, tăng 86,5% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó, khách quốc tế hơn 26 nghìn lượt, đạt 17,3% kế hoạch, tăng 76,4% so cùng kỳ năm ngoái và du khách nội địa (báo Nhân Dân, 07/07/2022). Điều kiện tự nhiên Thành phố Đà Lạt có diện tích tự nhiên 39.105 ha, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, về phía Đông Bắc tỉnh Lâm Đồng.
Địa hình Đà Lạt thuộc dạng sơn nguyên với độ cao trung bình 1520 m. Nhiệt độ trung bình năm là 18,3 độ C. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 cho đến tháng 4 nam sau. Dia hình thành phố Đà Lạt khá phức tạp, đa dạng, nhiều đèo núi, thác ghénh hiểm trở nên việc đi lai rất khó khăn va nguy hiểm, đặc biệt là vào mùa mưa, gây trở ngại không nhỏ đến các hoạt động du lịch Do đặc điểm về khí hậu và thổ nhưỡng nên sự phân bố thảm thực vật tự nhiên tại Đà lạt rất phong phú và đa dạng với nhiều kiểu rừng khác nhau.
Chúng vừa mang tính chất của thảm thực vật nhiệt đới âm, vừa mang tính chất của vùng á nhiệt đới am. Trong đó, chiếm ưu thé là rừng lá kim với đặc trưng là rừng thông 3 lá. Điều kiện xã hội Người Đà Lạt hiền lành, không chạy theo xu hướng, nên họ thường gìn giữ và bảo tồn những nét đẹp truyền thống của cha ông dé lại. Đối lập với người thành phố thích đến mua sắm ở các trung tâm thương mại, siêu thị sam uất hiện đại thì người Đà Lạt lại thích những giá trị xưa cũ, như chợ chẳng hạn.
Bởi chợ gần gũi, quen thuộc với đời sống người Việt hơn những siêu thị hào nhoáng, ồn ào. Dù là thành phố du lịch nổi tiếng của cả nước, song Đà Lat vẫn giữ nguyên vẹn sự bình yên hiếm thấy. Người Đà Lạt làm gì cũng nhẹ nhàng, từ tốn, không ồn ào, sân si. Nếu như các thành phố lớn khác, người ta luôn bị cuốn theo nhịp sông nhanh, vội vã thì người Đà Lạt lại thích những gì bình yên và nhàn nhã.
Họ thích làm vườn, trồng cây, chăm hoa. Các mô hình nghiên cứu đo lường về sự hài lòng Ngày nay, có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước sử dụng nhiều mô hình khác nhau dé đo lường và đánh giá sự hài lòng của khách du lịch đôi với điểm đến. Theo Tribe và Snaith (1998), có hai mô hình đánh giá hiện nay được nhiều nghiên cứu lựa chọn: mô hình SERVQUAL (Service Quality), mô hình SERVPRF (Service Performance). 9 Mô hình SERVQUAL Parasuraman (1988,1991) đã xây dựng một công cụ đo lường đó là thang do SERVQUAL bao gồm hai thành phần chính.
Phần thứ nhất bao gồm 22 thuộc tính nhằm đánh giá những mong muốn về chất lượng dịch vụ đối với một ngành cụ thê và phần thứ hai cũng bao gồm 22 thuộc tính nhằm đánh giá nhận thức về chất lượng dịch vụ của một công ty nào đó thuộc ngành này. Kết quả nghiên cứu nhằm xác định khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ cảm nhận của khách hàng sau khi được doanh nghiệp cung ứng và kỳ vọng của họ về chất lượng dịch vụ đó.