Chương 1: Tổng quan. Chƣơng 1 nhằm khái quát những nét chính về đề tài nghiên cứu nhƣ lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu cần thực hiện, phƣơng pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Tác giả trình bày về tổng quan các cơ sở lý luận lý thuyết và cơ sở thực tiễn , và nêu ra các công trình nghiên cứu tƣơng tự trƣớc đó. Dựa vào cơ sở luận và các công trình nghiên cứu nêu trên để hệ thống lại các yếu tố ảnh hƣởng đến đến Ý định ở lại TP.
HCM làm việc của sinh viên ngoại tỉnh tại trƣờng Đại học Ngân Hàng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu trình bày quy trình thực hiện, mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Dựa trên kết quả dữ liệu thu thập đƣợc, tác giả kiểm định mô hình nghiên cứu, phân tích và đƣa ra kết quả xếp hạng đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố trong mô hình.
Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị. Chƣơng trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, đƣa ra kết luận và những giải pháp cho các yếu tố ảnh hƣởng đã đề xuất và những định hƣớng cho các nghiên cứu trong tƣơng lai 13 CHƢƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan về cơ sở lý luận của nghiên cứu 2.1 Các khái niệm chính 2.1 Sinh viên là gì? Sinh viên là ngƣời đang theo học ở các trƣờng đại học ,cao đẳng hoặc trung cấp. Khác với thời học sinh, sau khi bƣớc qua ngƣỡng qua cấp ba ,sinh viên đƣợc học những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho ngành học đang theo đuổi,đồng thời sinh viên sẽ có tính tự lập cao hơn trong mọi thứ từ học tập đến sinh hoạt vì đa số sẽ đi học xa nhà đối với sinh viên ở tỉnh. Sinh viên đã tốt nghiệp: là ngƣời đã hoàn thành chƣơng trình học tập bậc ĐH, CĐ ,TC và đƣợc cấp bằng tốt nghiệp.Sau khi tốt nghiệp, hầu hết họ sẽ bắt đầu làm việc (nghề có thể đúng, gần hoặc không liên quan đến chuyên môn đã đƣợc đào tạo trong những năm ĐH).Trong khi đó,một số ngƣời vẫn tiếp tục theo đuổi con đƣờng học vấn bằng cách học lên các bậc cao hơn hoặc học thêm các kiến thức để hoàn thiện hơn.
Khái niệm về yếu tố tác động Yếu tố tác động là các nhân tố có ảnh hƣởng đến quan điểm, hành vi, động cơ của mỗi cá nhân, từ đó giúp con ngƣời đƣa ra những lựa chọn , hành động mà cá nhân cho là phù hợp với bản thân trong một thời gian nhất định. Các nhân tố này có thể xuất phát từ bên trong cá nhân hoặc bên ngoài do sự tác động của môi trƣờng. Đối với ý định ở lại thành phố làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tỉnh cũng đã đƣợc cân nhắc giữa các nhân tố bên trong và bên ngoài. Quá trình hình thành ý định này có thể đƣợc tạo ra trƣớc khi sinh viên muốn chọn thành phố là nơi học tập và sinh sống hoặc đƣợc hình thành trong quá trình học tập (có thể vào những năm cuối trong quá trình học tập).3 Khái niệm về ý định ? Ý định có thể đƣợc hiểu là một suy nghĩ có động cơ rõ ràng nhƣng chƣa đƣợc thực hiện.
Ý định có thể tạo ra hành động nhất thời trong một khoản thời gian cố định .2 Cơ sở thực tiễn của nghiên cứu 2.1 Chính sách của nhà nƣớc trong vấn đề giải quyết cho sinh viên Thực trạng sinh viên hiện nay ,sau khi tốt nghiệp tại các trƣờng ĐH không làm đúng chuyên ngành mà mình đã đƣợc đào tạo.Tình hình này đang rất phổ biến. Theo sự thống kê của Bộ Lao động - thƣơng binh và xã hội thì hiện tại, có khoảng 60% sinh viên sau khi tốt nghiệp làm khác ngành của họ .Không những vậy ,nhiều sinh viên làm việc tại công khu công nghiệp với những công việc nhƣ may mặc, gia công và phổ biến nhất hiện nay là chạy xe công nghệ hoặc giao hàng cho các hãng nhƣ GoJeck,Shoppe,Be ,…những việc làm không cần bằng cấp. Trong buổi Hội thảo tại Trƣờng ĐH Kinh tế TP.HCM, Theo TS Đinh Công Khải - trƣởng khoa quản lý nhà nƣớc Trƣờng ĐH Kinh tế TP. Có nhiều nguyên nhân tác đọng đến hiện trạng sinh viên ra trƣờng thất nghiệp.
Những lý do có thể kể đến sự thụ động trong tìm kiếm việc làm, sinh viên sau khi ra trƣờng nhƣng lại ngại va chạm với thực tế bên ngoài,không chủ động tìm kiếm công việc phù hợp, thiếu linh hoạt, nhạy bén khi đi tìm việc; thiếu kỹ năng mềm,kỹ năng làm việc nhóm, ngoài ra nhiều sinh viên còn ảo tƣởng mức lƣơng sau khi ra trƣờng dẫn đến thất vọng ở thực tại. Chính phủ nêu rõ, một trong những giải pháp căn cơ giúp giảm thiểu tình trạng sinh viên ra trƣờng chƣa có việc làm chính là phải tạo ra sự cân đối giữa đào tạo và sử dụng lao động để sinh viên khi tham gia học tập tại các trƣờng TC, CĐ, ĐH đƣợc đào tạo chuyên môn, ngành, nghề phù hợp với nhu cầu thực tiễn của thị trƣờng lao động để khi ra trƣờng khi cầm tấm bằng trên tay với những kỹ năng đã đƣợc tích góp phần nào khi còn ở giảng đƣờng Đại học sẽ giúp ích cho sinh viên có thể tìm kiếm đƣợc công việc phù hợp nhất với khả năng của mình, tránh tình trạng thất nghiệp hoặc phải làm 15 việc không đúng với chuyên môn đƣợc đào tạo. Do đó, trong thời gian tới Nhà nƣớc tập trung chỉ đạo thực hiện một số giải pháp lớn sau : - Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh về công tác giáo dục, đào tạo, về thị trƣờng lao động để nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo và bảo đảm chất lƣợng nguồn nhân lực theo yêu cầu của thị trƣờng lao động trong tƣơng lai - Triển khai công tác phân tầng và xếp hạng các cơ sở giáo dục ĐH, cần có sự sát sao giữa kiến thức trên lý thuyết và kiến thức lý thuyết và kiến thức thực tiễn. - Đào tạo sinh viên sát sao với tiến độ phát triển của xã hội , đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó khuyến khích thu hút đầu tƣ vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề và đẩy mạnh tự chủ trong các cơ sở giáo dục và đào tạo.
-Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát thƣờng trực các cơ sở giáo dục thuộc các hệ TC,CĐ,ĐH ,xử lý nghiêm những trƣờng hợp vi phạm nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực. Ngoài các giải pháp có tính chất lâu dài và căn cơ đã nêu ở trên, trƣớc mắt, Chính phủ đã và đang triển khai một số giải pháp sau : - Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, hỗ trợ, khuyến khích ngƣời lao động (bao gồm cả sinh viên sau khi tốt nghiệp) chủ động tìm kiếm việc làm, tự tạo việc làm, bồi dƣỡng nâng cao hoặc chuyển đổi lĩnh vực, ngành nghề đào tạo đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Chính sách thu hút nguồn nhân lực của Thành phố Hồ Chí Minh Nhằm hạn chế tình trạng "chảy máu chất xám" , TP HCM đã đƣa ra đề xuất với Chính phủ về việc có những đãi ngộ đối với ngƣời tài bằng những chính sách cụ thể để họ có thể cống hiến chất xám của mình và phát triển hơn nữa. TP HCM cũng nêu ra ý kiến về mức độ phúc lợi mà ngƣời tài đƣợc hƣởng gồm : Mức hỗ trợ ban đầu (áp dụng một lần); tiền lƣơng và sinh hoạt phí hàng tháng; tiền thƣởng theo tỷ lệ lợi nhuận từ sản phẩm mà họ nghiên cứu đƣợc hay dựa trên thành tích mà họ đạt đƣợc.Ngoài ra còn có các chính sách về hỗ trợ kinh phí thuê, mua nhà, phƣơng tiện 16 đi lại.
Trong báo cáo gửi Bộ Nội Vụ, TP HCM nêu giai đoạn 2001-2023 địa phƣơng thực hiện ba chƣơng trình đào tạo (ngƣời trẻ, thạc sĩ - tiến sĩ, công nhân) với định hƣớng quy hoạch cán bộ quản lý cho các khu vực công, thu hút, tuyển chọn ngƣời.HCM vừa có dự thảo về đề án thu hút ngƣời tài cụ thể là các chuyên gia, nhà khoa học và lao động sáng tạo trẻ về công tác tại các sở, ban, ngành, các khu công nghệ cao của TP.HCM giai đoạn 2020-2022 và tầm nhìn đến năm 2025. Đối tƣợng dự tuyển trong dự án này nằm trong ở một trong hai nhóm: Nhóm 1: Có tuổi đời và thành tích học tập, thành tích nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu tại Điều 2 Nghị định 140/2007 của Chính phủ về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ. Nhóm 2: Nếu không thuộc nhóm 1, ứng viên dự tuyển phải có trình độ tiến sĩ hoặc học hàm, học vị giáo sƣ, phó giáo sƣ. Nếu chƣa phải tiến sĩ thì phải là thạc sĩ loại xuất sắc do các cơ sở trong nƣớc kiểm định đạt tiêu chuẩn.Những lý do trên đã phần nào thu hút ngƣời trẻ có nền tảng kiến thức tham giao vào.Qua đây, ta có thể thấy TP HCM là nơi không chỉ mang lại nhiều cơ hội phát triển cho bản thân mỗi cá thể mà còn mang lại sự thịnh vƣợng cho nƣớc nhà khi trọng dụng đƣợc nhiều ngƣời tài.
Theo nhƣ đề án đã nói trên , sau khi đƣợc tuyển chọn những ngƣời tài sẽ đƣợc ƣu đãi rất lớn về nhiều chế độ, chính sách từ chất lƣợng cuộc sống đến phát triển bản thân. Đối với chế độ thu hút nhân tài của các tỉnh còn hạn chế nên chế độ này cũng một phần ảnh hƣởng đến ý định ở lại làm việc sau tốt nghiệp của sinh viên tỉnh trên cả nƣớc nói chung và sinh viên tỉnh tại Đại học Ngân hàng nói riêng.3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu -Nghiên cứu của sinh viên trƣờng Đại học Thƣơng Mại khoa Tài chính Ngân hàng về Những nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định về quê làm việc của sinh viên Đại học Thƣơng Mại sau khi ra trƣờng. Bài nghiên cứu gồm 5 yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định về quê làm việc của sinh viên Đại học ngoại thƣơng là Định hƣớng từ gia đình, 17 Thu nhập kì vọng,Cơ hội việc làm ,Môi trƣờng sống và yếu tố cuối cùng là Tình cảm quê hƣơng.