Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG HIỂU BIẾT VỀ BẢN THÂN VÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Vấn đề KN được các nhà triết học, giáo dục học, tâm lý học trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu theo các hướng tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, các hướng nghiên cứu về KN gắn với mỗi loại hình đào tạo, bồi dưỡng cho từng đối tượng cụ thể.
Trong đó có thể kể đến: Ngay từ khi bước vào thế kỷ XX với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, lượng tri thức do nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và người Mỹ đã nhận thức được điều đó, song để nghiên cứu và vận dụng tri thức vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống đặt ra lại chưa được như mong muốn của mỗi người. Xuất phát từ lý do ấy mà các lực lượng lao động tại nước Mỹ muốn bước vào thị trường lao động họ phải trải qua một kỳ sát hạch nhật định và được công nhận là đã đạt 13 KN bắt buộc, trong đó có những yếu tố thuộc về KN hiểu biết bản thân. Trong “Bí quyết thành công dành cho tuổi teen” và “Tôi tài giỏi bạn cũng thế”, tác giả Adam Khoo và Gary Lee đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng KNS cũng như các KN cần thiết khác cho HS, sinh viên nhằm đáp ứng thị trường lao động. Tác giả Zilic Z nhận định KNS ở mỗi con người được hình thành, phát triển trước hết phải được đào tạo, bồi dưỡng và trải nghiệm thực tiễn và tất cả các KN làm việc nhóm, KN lập kế hoạch, KN tổ chức thực hiện dự án chỉ được phát triển thông qua các khóa học và chương trình về dự án.
Tất cả những vấn đề ấy được tác giả mô tả chi tiết trong bài viết của mình về “Những phương án trong việc dạy KN xây dựng hệ thống” [40]. Đáng chú ý hơn nữa chính là việc xác định KNS của mỗi người, được coi như một trong 6 mục tiêu hàng đầu ở mỗi quốc gia vì KNS, KNXH trở thành quyền của học sinh, sinh viên và chất lượng giáo dục phải được thể hiện 7 cả trong KNS, KNXH của họ tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người ở Darka (Senegal, 2000) [dẫn theo 20]. Tuy nhiên, cho dù việc GDKNS, KN hiểu biết về bản thân và MTS cho HS được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm về KNS của Tổ chức Y tế thế giới hoặc UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung GDKNS, KN hiểu biết về bản thân và MTS ở các nước không hoàn toàn đồng nhất, mà có sự tiếp cận theo hướng rộng hẹp khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, GD&ĐT thế hệ trẻ ở thế kỷ XXI không chỉ học để biết, để làm mà quan trọng hơn là “cùng chung sống và tự khẳng định mình”.
Theo đó, HS không chỉ có sự hiểu biết, mà còn phải biết làm người, tự khẳng định mình và đòi hỏi có những KN cần thiết trong hoạt động và giao tiếp. Bàn về vấn đề này, nhà tâm lý học Daniel Goleman đã khẳng định giá trị của KN là “Khả năng của một cá nhân biết quản lý bản thân, cũng như mối quan hệ của họ với người khác, cũng quan trọng như chỉ số thông minh của họ”. Bởi những áp lực liên tục từ công việc và những thay đổi trong môi trường làm việc, một người lao động phải có các KN (KNS, KN mềm,.), những KN này có thể giúp họ vượt qua khó khăn, thách thức mỗi ngày. Tác giả Schulz B của công trình khoa học “tầm quan trọng của các KN” cũng đã bàn đến những KN cần thiết của sinh viên.
Ông đã chỉ ra một số KN cần thiết đối với sinh viên là KN giao tiếp, đàm phán, sáng tạo, tư duy tổ chức và phê phán,. Theo tác giả Schulz. B thì việc hình thành, phát triển của các KN ở mỗi người nói chung, mỗi sinh viên đang học tập ở nhà trường nói riêng, cần phải được tổ chức thong qua các hoạt động giáo dục và bồi dưỡng với những khóa học cụ thể, kết hợp với khả năng tự rèn luyện của mỗi cá nhân dựa trên kiến thức được trang bị và sự hướng dẫn cụ thể thông qua các loại tài liệu về KN mềm, KNXH hoặc tham gia hoạt động ở các câu lạc bộ, các hoạt động xã hội, qua đó mà lồng ghép việc giáo dục phát triển các KN cần thiết cho sinh viên trong chương trình các môn học [41, tr. Còn tác giả Lamont, trong bài viết “Heterogeneity in parent - reported social skill development in early elementảy school children social Development” [36], cho rằng KNXH có vai trò quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển nghề nghiệp và 8 đưa ra một số KN cần giáo dục cho HS nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động tại Ấn Độ là KN giao tiếp, thuyết trình, quản lý thời gian,….
Trong bài viết “Soft Skills enhancing employability” [38], tác giả Hao M.S đã đưa ra các KN mềm mà mỗi cá nhân cần có tại nơi làm việc, trong đó giao tiếp là KN chủ đạo. Ở Việt Nam, nghiên cứu về KNS, KN hiểu biết về bản thân và MTS cũng đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, trong đó có thể kể đến cuốn sách “Bạn trẻ và KNS” [30], của tác giả Huỳnh Văn Sơn, trong cuốn sách tác giả đã hệ thống hóa các KNS cho hành trang của của thế hệ trẻ là KN tự đánh giá, hợp tác, KN lắng nghe, phán đoán cảm xúc của người khác, KN kiềm chế cảm xúc. Cuốn sách, “Sổ tay cán bộ Đoàn cơ sở” [10], của Lê Văn Cầu đã cung cấp cho cán bộ, đoàn viên những kiến thức KN cơ bản về nghiệp vụ công tác Đoàn, Hội, Đội. Theo tác giả, “KN công tác thanh thiếu niên, có thể cụ thể hóa thành những nội dung KN giao tiếp; KN tuyên truyền vận động; KN nói trước công chúng; KN tổ chức các hoạt động kinh tế; KN tổ chức các hoạt động chính trị-xã hội; KN tổ chức các hoạt động văn hóa - thể thao” [10, tr.
Hiện nay, vấn đề GDKN mềm, KNS nói chung, KN hiểu biết về bản thân và MTS nói riêng cho HS đang trở thành xu hướng giáo dục ở các nhà trường và thời điểm cần GDKN hiểu biết về bản thân và MTS phải được tiến hành giáo dục cho HS ngay từ nhỏ. Do vậy, GDKNS nói chung, KN hiểu biết về bản thân và MTS nói riêng cũng từng bước được tích hợp trong các bài giảng và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của HS ở nhà trường như tác giả Nguyễn Dục Quang đã trình bày một cách cụ thể, rõ ràng trong cuốn sách “Hướng dẫn thực hiện GDKNS cho HS phổ thông” của mình. Nghiên cứu nội dung cuốn sách của tác giả đã cho thấy các nội dung được làm rõ từ bản chất của KNS của mỗi người chính là KN tự quản lý bản thân và KNXH cần thiết để giúp cho cá nhân mỗi HS có tinh thần tự lực vươn lên trong cuộc sống, học tập, rèn luyện và làm việc để mang lại hiệu quả thiết thực nhất [28]. Cũng bàn về vấn đề GDKNS, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề cơ bản của KNS với một phương pháp tiếp cận KNS phù hợp để có thể vận dụng vào trong quá trình giáo dục cho HS ở nhà trường phổ 9 thông, cùng với đó là việc đề xuất các chủ đề GDKNS cho HS phổ thông một cách cụ thể trong cuốn “Giáo trình GDKNS” [2].
Mặc dù nội dung của tác giả trình bày trong giáo trình không đề cập một cách trực tiếp đến KN hiểu biết về bản thân và MTS, nhưng tác giả lại nhiều lần khẳng định là việc chăm sóc, bảo vệ bản thân là được coi như một trong những KNS quan trọng của cá nhân HS, trong đó nổi bật nhất chính là KN ứng phó với căng thẳng trong cuộc sống và học tập, giải quyết các mối quan hệ xã hội [2]. Trong ấn phẩm “Phương pháp giáo dục giá trị sống và KNS cho HS trung học phổ thông” [21], đã được nhà xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản. Nội dung của ấn phẩm đã nhấn mạnh đến KNS, coi đó là một công cụ, một phương tiện để giúp cho mỗi cá nhân HS có thể tiếp nhận và thể hiện giá trị sống của chính mình trong một môi trường xã hội cụ thể. Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên [21], đã định hướng và giúp cho đội ngũ GV ở các Trường THPT định hướng rõ ràng hơn việc tổ chức thực hiện giáo dục KN hiểu biết về bản thân và MTS cho HS đang học tập, rèn luyện trong nhà trường.
Trong đó việc giáo dục KN hiểu biết về bản thân và MTS có thể tổ chức tiến hành thành các giờ học riêng biệt, hoặc tích hợp, lồng ghép vào nội dung của các môn học mà GV đảm nhận giảng dạy tại lớp [21]. Qua khảo cứu chúng tôi thấy vấn đề KNS và KN hiểu biết về bản thân và MTS vẫn mang tính thời sự và luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, với các cách tiếp cận vấn đề khác nhau, như tác giả Vũ Thị Bích Hằng [15]; Nguyễn Thị Oanh [27]. Các bài viết của các tác giả đều có điểm chung là khẳng định, làm rõ mức độ quan trọng, sự cần thiết của KNS, trong đó có KN hiểu biết về bản thân và MTS cần được giáo dục cho HS để từ đó giúp cho HS có thể thích ứng ngày càng tốt hơn với môi trường, hoàn cảnh sống ngày càn thay đổi. Bài viết “Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua trải nghiệm cho HS ở các trường tiểu học huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình” [25], của tác giả Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Bá Phu, bài báo khẳng định: GDKNS cho HS ngay từ bậc THPT là một nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục ở nhà trường nhằm 10 trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ, KN phù hợp để hình thành ở mỗi HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, đồng thời loại bỏ những hành vi tiêu cực, tiêu cực.