chương 1 và chương 3 của Luận văn. Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Khái niệm quản lý, quản lý nhà trường 1. Quản lý và quản lý giáo dục Quản lý Trong bất kỳ một tổ chức nào, để hoạt động của tổ chức được vận hành trơn tru, có hiệu quả, luôn luôn cần đến sự điều hành, phân công, phối hợp giữa 10 các thành viên, đơn vị của tổ chức.
Hoạt động điều phối từ những người đứng đầu được coi là hoạt động quản lý. Trên những góc độ tiếp cận khác nhau, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: James Stiner và Stenphen Robbins quan niệm: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” (Dẫn theo [31, tr. Harold Kontz cho rằng: “quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” (Dẫn theo [31, tr.
Fayon: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và KT” (Dẫn theo [12, tr. Những quan điểm trên được trình bày với những góc độ nhìn nhận và nghiên cứu khác nhau nhưng đều thống nhất ở một số điểm: - quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có định hướng. - quản lý là những tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý. - quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu mà tổ chức đã đề ra một cách hiệu quả.
- quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Luận văn tiếp cận khái niệm quản lý theo quan điểm của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [8, tr. 11 Quản lý giáo dục Với mỗi nhà nghiên cứu, khái niệm về quản lý giáo dục được tiếp cận với phương diên nghiên cứu khác nhau: Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ. Trần Kiểm định nghĩa: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em” [16, tr.
Những quan niệm trên cho thấy, trong QLGD, chủ thể quản lý là người thực hiện những tác động, ra quyết định điều hành, KT, ĐG toàn bộ quá trình vận hành của tổ chức; đối tượng quản lý trong quản lý giáo dục là toàn bộ hệ thống giáo dục, mở rộng hơn nữa là các lực lượng xã hội có tác động đến quá trình giáo dục. Mục đích của quản lý giáo dục là định hướng, điều hành, vận hành tổ chức để đạt được những mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Từ những phân tích trên, luận văn định nghĩa: quản lý giáo dục là những tác động của chủ thể quản lý hệ thống \giáo dục đến những phân cấp thấp hơn trong hệ thống giáo dục nhằm thực hiện nhiệm vụ GD&ĐT nguồn nhân lực cho một quốc gia. Quản lý nhà trường và quản lý nhà trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Trong hệ thống giáo dục, nhà trường là cơ sở giáo dục trực tiếp làm công tác GD&ĐT thế hệ trẻ.
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó, quản lý nhà trường nhất thiết phải vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội” [27, tr. 12 Như vậy, quản lý nhà trường là một nội dung của quản lý giáo dục. Có nhiều quan điểm về quản lý nhà trường như: M.
Kondacov, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga đã viết: “Chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế - xã hội và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [18, tr. Phạm Minh Hạc cho rằng: "Quản lý nhà trường thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh" [10, tr. Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: "quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao GD&ĐT trong nhà trường" [36, tr. Tự trung các những quan điểm trên, chúng tôi định nghĩa: quản lý nhà trường là hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và KT, ĐG hoạt động giáo dục trong nhà trường của chủ thể quản lý nhà trường nhằm làm cho tất cả các thành tố của quá trình giáo dục trong nhà trường vận hành theo mục tiêu mà kế hoạch giáo dục đã đề ra.
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể hiểu, quản lý nhà trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học là quản lý nhà trường nói chung và cụ thể áp dụng cho loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học 1. Năng lực Weinert, F. cho rằng: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phản ánh bởi cách làm việc có hiệu quả và có trách nhiệm, phù hợp 13 với yêu cầu của một hoạt động nhất định, trong những tình huống khác nhau, trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng, thái độ nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó có kết quả tối ưu” [38, tr.
Tổ chức Hợp tác GD sau trung học quốc gia Hoa Kỳ (The National Postsecondary Education Cooperative - NPEC) định nghĩa: Năng lực là kết quả của các kinh nghiệm học tập được hợp nhất, trong đó các kĩ năng, khả năng và kiến thức tương tác với nhau để tạo thành những tổ hợp có giá trị liên quan đến nhiệm vụ mà chúng được huy động” [37]. Theo Nguyễn Thị Mai Lan, “Năng lực có thể được hiểu là khả năng huy động vốn kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân và thái độ để thực hiện thành công, có hiệu quả nhiệm vụ hay giải quyết một vấn đề xác định” [19, tr 44-47; 44]. Theo Hoàng Hòa Bình, “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [16, tr 68-82]. Tài liệu tập huấn của Bộ GD&ĐT giải thích thuật ngữ năng lực như sau: Năng lực “là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [7, tr 5]. Các quan điểm trên về Năng lực đều thống nhất ở một số điểm: - Năng lực là các thuộc tính vừa có sẵn ở mỗi cá nhân, vừa được hình thành và phát triển qua quá trình học tập, rèn luyện. - Năng lực là sự vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thái độ để giải quyết một vấn đề thực tiễn. Từ những quan điểm trên, có thể định nghĩa: “Năng lực một loại thuộc tính cá nhân bao gồm cả các đặc tính bẩm sinh và cả những đặc tính mới 14 được hình thành và phát triển nhờ quá trình học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân, cho phép họ huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ của bản thân để thực hiện thành công một hoạt động nào đó trong một tình huống cụ thể” [2, tr 34-39].
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường: “PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và HS trong những môi trường nhà trường được tổ chức, nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, thái độ, PTNL và PC” [3, tr. Theo tài liệu tập huấn giáo viên tiểu học cốt cán của Bộ GD&ĐT, “PPDH và GD được hiểu là cách thức, con đường hoạt động chung giữa người dạy và người học, trong những điều kiện dạy học giáo dục xác định, nhằm đạt tới mục tiêu dạy học và GD đã xác định” [7, tr. PPDH được tiếp cận theo nhiều phương diện khác nhau, luận văn tiếp cận phương pháp dạy học với ý nghĩa là phương pháp dạy của học viên và phương pháp của HS trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục tiêu dạy học. PPDH thay đổi theo sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và nhu cầu người học.
phương pháp dạy học bao gồm rất nhiều các khác nhau, trong đó, mỗi giáo viên sẽ lựa chọn, sử dụng linh hoạt tùy theo nội dung, đặc thù môn học, theo đối tượng HS và điều kiện thực tiễn của nhà trường.