CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. Tuy vậy, thành phố này đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh. Dân số tăng nhanh, trong khi đó chiến lược phát triển đô thị không đi đôi với việc làm và các dịch vụ kèm theo, khiến thành phố trở nên chật chội, bức bối. Đó là bức tranh mà Hà Nội đang gặp phải trong 10 năm gần đây.
Trong nội ô thành phố, đường sá ngày càng quá tải, thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc, kẹt xe. Môi trường của thành phố cũng đang ngày càng ô nhiễm. Trong những năm gần đây mật độ dân số của thành phố đang có xu hướng tăng lên nhanh chóng với phần lớn là dân nhập cư từ các tỉnh khác vào. Trong khi các vùng quê thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao để góp phần xây dựng quê hương, thì việc đổ dồn nguồn lực con người vào thành phố Hà Nội trong những năm qua là một vấn đề đau đầu đối với các nhà quản lý đất nước.
Làm sao để phân phối hợp lý nguồn lực giữa các vùng miền các tỉnh thành trong cả nước đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý nhà nước. Theo số liệu từ tổng cục thống kê về số sinh viên phân theo địa phương thì tính đến năm 2011, địa bàn Hà Nội có 690.276 ngàn sinh viên thuộc các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn thành phố. Tính trong năm 2011 có trên 220.000 ngàn sinh viên nhập học tại TP. Hà Nội, chiếm tỉ lệ lớn trong đó là các sinh viên ngoại tỉnh đến từ mọi miền tổ quốc và đại đa số trong số họ có ý định ở lại đây lập nghiệp và định cư.
Từ nhiều năm qua, vấn đề di cư đã được đưa ra thảo luận, bàn bạc và đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến cộng đồng di cư và các yếu tố ảnh 2 hưởng từ các góc độ và phạm vi khác nhau. Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định di cư đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây như: Vai trò mạng lưới xã hội trong quá trình di cư (Đặng Nguyên Anh, 1998); Di dân tự do đến Hà Nội (Hoàng Văn Chức, 2004), Di dân, nguồn nhân lực, việc làm và đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh (Trương Sỹ Ánh, 1996). Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố với vấn đề di cư, tuy nhiên vẫn chưa có một nghiên cứu nào xác định những nhân tố chính tác động đến quyết định di cư của sinh viên ngoại tỉnh khi lựa chọn thành phố lớn như Hà Nội là nơi làm việc. Bởi vậy, đề tài được hình thành để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn Hà Nội là nơi làm việc của sinh viên trên địa bàn, nhằm giúp cho cơ quan quản lý nhà nước thấy được cần quan tâm, tác động đến những nhân tố nào để mang lại hiệu quả trong việc thu hút và quản lý nguồn lực con người giữa các tỉnh thành trong tương lai.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên cơ sở yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, mục tiêu nghiên cứu bao trùm của đề tài là Nghiên cứu những nhân tố tác động đến quyết định ở lại Hà Nội làm việc của sinh viên.
Trong đó bao gồm các mục tiêu cụ thể như sau: Khám phá những nhân tố ảnh hưởng tới quyết định nơi làm việc của sinh viên Phân tích tác động của những nhân tố trên đối với sinh viên tại thành phố Hà Nội.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời những câu hỏi sau: 1. Nhân tố nào tác động tới quyết định di cư? 3 2. Các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của đối tượng sinh viên ngoại tỉnh đang học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội như thế nào? 1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai giai đoạn chính: (1) xây dựng thang đo và mô hình lý thuyết; và (2) kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cho trường hợp điển hình; - Đề tài sử dụng các công cụ phân tích để giải quyết mục tiêu sau: các thống kê mô tả, kiểm định thang đo, phân tích nhân tố; các ước lượng và kiểm định mô hình.5 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Phạm vi nghiên cứu Như đã nêu ở trên, di cư được nghiên cứu ở nhiều đối tượng (phụ nữ, người lao động miền núi…). Tuy nhiên, đề tài này chỉ nghiên cứu ý định di cư của đối tượng thanh niên từ nông thôn lên thành phố vì mục đích đi học nay đứng trước quyết định ở lại thành phố làm việc hay trở về quê nhà hoặc chuyển đến địa phương khác.
Do những hạn chế về nguồn lực nghiên cứu, nghiên cứu giới hạn không gian khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội, việc này cũng giúp việc phân tích các nhân tố có ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn TP. Hà Nội là nơi làm việc của người dân ngoại tỉnh thêm sâu sắc hơn. Đối tượng nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung xem xét đối tượng sinh viên ngoại tỉnh những năm cuối tại một số trường đại học cao đẳng, đây là đối tượng đã di cư từ các địa phương về TP. Hà Nội học tập và sinh sống.
Thời điểm các đối tượng này ra trường và bắt đầu bước vào thị trường lao động cũng chính là thời điểm phải đưa ra quyết định lựa chọn nơi đến tiếp theo. Hơn thế, nguồn lao động này đối với thị trường lao động được xem là nguồn nhân lực chất lượng cao. Các chính sách phân bổ dòng di cư 4 hợp lý cũng như chính sách thu hút nhóm đối tượng này cho các địa phương sẽ tạo ra gia tăng giá trị cho nền kinh tế, giảm bớt thiệt hại trong dài hạn, và đảm bảo cuộc sống cho các cá nhân và gia đình họ.6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN Kết cấu của luận văn bao gồm năm chương: Chương một tác giả trình bày về sự cần thiết của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết, phát triển mô hình nghiên cứu.
Kế thừa những lý thuyết của chương hai, chương ba sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu, bao gồm: quy trình nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu và những kỹ thuật phân tích dữ liệu. Từ đó, tác giả thống kê mô tả, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn TP. Hà Nội là nơi làm việc trong chương bốn. Cuối cùng, trong chương năm, tác giả đưa ra kết luận cho những nhân tố chính có ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn TP.
Hà Nội là nơi làm việc, từ đó rút ra ý nghĩa đóng góp của đề tài. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Để có cái nhìn tổng quan về những mô hình nghiên cứu trước đây và cơ sở lý thuyết về di cư, trong chương hai tác giả khái quát những quan điểm khác nhau về di cư, một số mô hình di cư từ đó đưa ra các giả thiết, khung lý thuyết mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư.1 LÝ THUYẾT VỀ DI CƯ 2.1 Khái niệm về di cư Di cư là một hiện tượng tất yếu của cuộc sống. Bởi di cư là một quá trình diễn ra không ngừng và là một bộ phận làm thay đổi đáng kể qui mô và cơ cấu dân số giữa các vùng. Bởi thế, di cư là một vấn đề mà từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Thế nhưng một định nghĩa thống nhất về di cư thì đến nay vẫn chưa có, mỗi định nghĩa xuất phát từ những phương diện khác nhau, do đó khó có thể lựa chọn được một định nghĩa thống nhất, bao quát cho mọi tình huống. Hiện nay, các tổ chức, cá nhân nghiên cứu về đối tượng di cư thường sử dụng khái niệm riêng của mình về di cư tùy theo góc quan sát cũng như quan điểm của họ. Có những khái niệm tập trung vào khái niệm “không gian địa lý” như trong nghiên cứu của Lee (1966), di cư là “sự thay đổi cố định nơi cư trú”, hay theo nghiên cứu của Mangalam và Morgan (1986) thì di cư là “sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của người di dân ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lý khác” (trích trong Nguyễn Văn Tài, 1998). Như Perevedensev (1966) coi sự di dân là tổng hợp sự di chuyển của con người gắn với sự thay đổi chỗ ở.
Để xem xét đầy đủ hơn khái niệm di cư, Thomlison (1976) bổ sung vào định nghĩa di dân thêm khía cạnh thời gian: di dân (migrants) là những người thay đổi nơi cư trú thông thường trong một khoảng thời gian đáng kể và họ vượt qua ranh giới chính trị (crossing a political boundary) (trích theo Trần Hồng Vân, 2002). 6 Bên cạnh đó, một vài khái niệm như của Baranov và Breev cho rằng di cư (hay di dân) là sự chuyển động cơ học của dân cư. Hiểu theo nghĩa rộng, là bất kỳ một sự di chuyển của con người giữa các vùng lãnh thổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động lao động và ngành có sử dụng lao động. Theo nghĩa hẹp có thể hiểu di dân là sự chuyển dịch của dân cư theo lãnh thổ, sự phân bố lại dân cư.
Tuy nhiên không phải bất kỳ sự chuyển dịch nào của dân cư cũng là di dân, mà di dân là sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú, gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ (trích trong Hoàng Văn Chức, 2004). Theo Xtgaroverop (1975): di dân được hiểu là sự thay đổi vị trí của con người về mặt địa lý, do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ một cộng đồng kinh tế này sang một cộng đồng kinh tế khác, trở về hoặc có sự thay đổi vị trí không gian của toàn bộ công đồng nói chung. Năm 1958, Liên hợp quốc đưa ra khái niệm về di cư như sau: di cư là sự di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị hành chính này và một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di cư xác định. Đối với nơi ở cũ, người di cư được gọi là người xuất cư (out-migrant), họ sẽ được gọi là dân nhập cư (in-migrant) tại nơi ở mới.