CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH DỰ THI CHỨNG CHỈ CPA. Lý thuyết và các nghiên cứu về ý định Ý định là một trong những cách thức để xem xét biểu hiện hành vi của cá nhân, nhằm dự đoán khả năng thực hiện một hành động cụ thể nào đó trong tương lai hoặc trong một hoàn cảnh nhất định. Theo Ajzen và Fishbein (1975), ý định là biểu hiện về khía cạnh suy nghĩ của một người về khả năng sẵn sàng thực hiện một hành động. Tương tự, Ajzen (1991) cũng cho rằng ý định là tiền đề quyết định hành vi, là dấu hiệu cho thấy khả năng một cá nhân sẽ thực hiện một hành vi cụ thể.
Mặc dù mối quan hệ giữa ý định và hành vi thực tế không hoàn toàn nhất quán trong mọi trường hợp nhưng ý định có thể được sử dụng như một yếu tố tốt nhất giúp dự báo hành vi của con người (Ajzen, 1991). Ý định có thể được xác định dựa trên nhiều khía cạnh. Thứ nhất, theo Locke và Latham (2002), mục tiêu là yếu tố dự báo mạnh mẽ về hành vi có kế hoạch. Mục tiêu là sự quyết tâm tham gia vào một hoạt động cụ thể (Bandura, 1986).
Việc đặt ra mục tiêu cụ thể để trở thành CPA có thể giúp sinh viên tổ chức và định hướng hành vi của mình, từ đó làm tăng khả năng đạt được các mục tiêu mong muốn (Lent và cộng sự, 1994). Bên cạnh mục tiêu, kế hoạch cũng là một khía cạnh biểu hiện một cá nhân có ý định thực hiện một hành vi. Theo Fishbein và Ajzen (1975), những hành vi được lên kế hoạch được đi trước bởi ý định và ý định trở thành một dấu hiệu chính xác của hành vi. Ngoài ra, ý định còn được thể hiện thông qua sự sẵn sàng trong nhận thức về việc thực hiện một hành động nào đó (Ajzen, 2002).
Một số lý thuyết nghiên cứu về hành vi của con người đã khẳng ra mối quan hệ mật thiết giữa ý định và hành động của con người. Trong lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Fishbein phát triển từ năm 1967, khi nghiên cứu về thái độ và động cơ trong quá trình đưa ra quyết định hay đưa ra những lựa chọn giữa các giải pháp, cách tốt nhất để đánh giá một hành động là dựa vào ý định. Ý định này chịu ảnh hưởng bởi hai khía cạnh là thái độ đối với hành vi và các chuẩn mực chủ quan liên quan đến hành vi đó. Cụ thể, thái độ đối với hành vi cho thấy những đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của một cá nhân khi thực hiện một hành động cụ thể.
Đó là quá trình xem xét của cá nhân về niềm tin vào những hậu quả mà hành vi mang lại và đánh giá chung của họ về những hậu quả đó. Ở khía cạnh còn lại, các chuẩn mực chủ quan phản ánh nhận thức của cá nhân về những áp lực hoặc chuẩn mực xã hội có liên quan 8 đến những hành vi cụ thể. Khía cạnh này xem xét niềm tin của các cá nhân về sự đánh giá từ người khác và động lực của họ trong việc tuân thủ các chuẩn mực được nhận thức trước đó. Theo Fishbein (1967), hai thành phần trên kết hợp với nhau để định hình ý định của một cá nhân khi thực hiện một hành vi cụ thể và ý định thực hiện hành vi càng mạnh thì khả năng thực hiện hành vi đó càng cao.
Điều này được minh chứng rõ ràng khi lý thuyết TRA được sử dụng trong nghiên cứu của Philip (2010) và thu được kết quả rằng thái độ và niềm tin vào nghề CPA thúc đẩy sinh viên theo đuổi nghề kế toán. Phát triển từ lý thuyết trên, trong lý thuyết ý định hành vi TPB (Theory of Planned Behavior), Ajzen (1991) đã chỉ ra rằng ý định là hành vi của một cá nhân chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố, bao gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan, và nhận thức về kiểm soát hành vi. Cụ thể, hai thành phần là thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan hoàn toàn tương tự với lý thuyết TRA đã nêu trên. Ở khía cạnh được bổ sung trong lý thuyết TPB, nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến sự đánh giá của cá nhân về mức độ dễ dàng khi thực hiện hành vi và sự nhận thức của họ về những yếu tố có thể tạo thuận lợi hoặc cản trở hành vi đó.
Những yếu tố này có thể bao gồm nguồn lực, kỹ năng, cơ hội hay những hạn chế từ môi trường bên ngoài. Ba thành phần trên kết hợp với nhau và góp phần định hình ý định thực hiện một hành động cụ thể của một cá nhân. Theo Ajzen (1991), niềm tin của cá nhân vào ba yếu tố trên càng lớn thì ý định thực hiện hành vi của họ của cá nhân càng mạnh mẽ. Thật vậy, sử dụng lý thuyết ý định hành vi TPB trong nghiên cứu, Wen và cộng sự (2015, 2018) đã cho thấy kết quả nhất quán với lý thuyết này khi kết luận rằng các nhân tố nhỏ nằm trong ba thành phần trên là kinh nghiệm tỷ lệ thôi việc cao, sự ít gắn kết ở nơi làm việc, việc đi công tác nhiều cùng những khó khăn trong việc duy trì chứng chỉ đều có thể ảnh hưởng đáng kể đến động lực theo đuổi chứng chỉ CPA của sinh viên.
Một lý thuyết khác cũng được sử dụng khá rộng rãi trong những nghiên cứu có liên quan đến ý định về hành vi nghề nghiệp là lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory) của Bandura (1986, 1997) và mô hình SCCT (Social Cognitive Career Theory) được Lent và cộng sự (1994, 2000) phát triển dựa trên lý thuyết này. Cụ thể, mô hình SCCT được xây dựng dựa trên lý thuyết nhận thức xã hội và nêu bật sự tương tác qua lại của các biến số liên quan đến cá nhân, hành vi và môi trường đến việc nhận thức nghề nghiệp. Theo Schoenfeld và cộng sự (2017), SCCT cung cấp một khuôn khổ toàn diện nhằm cố gắng giải thích động lực dẫn đến sự phát triển nhận thức và theo 9 đuổi một chuyên ngành và lựa chọn sự nghiệp tương lai. Hai thành phần trọng tâm của mô hình SCCT bao gồm sự tự tin vào năng lực bản thân và niềm tin vào kết quả mong đợi.
Mô hình này cho thấy rằng niềm tin vào năng lực bản thân càng mạnh mẽ thì cá nhân càng có nhiều khả năng theo đuổi, cam kết và duy trì việc thực hiện mục tiêu nghề nghiệp của mình. Bên cạnh đó, kỳ vọng về kết quả cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy các cá nhân hướng tới mục tiêu. Dựa trên mô hình SCCT, Gore và Leuwerke (2000) đã phát biểu rằng sinh viên sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc lựa chọn nghề nghiệp và sẽ thiết lập mục tiêu nghề nghiệp khi họ dự đoán được kết quả mong muốn có được từ nghề nghiệp đó. Những mong muốn và kỳ vọng về kết quả từ việc theo đuổi chứng chỉ CPA có thể bao gồm thu nhập cao hơn, công việc ổn định hơn, tiềm năng thăng tiến nhiều hơn hay có được uy tín xã hội hơn.
Từ mô hình này, Schoenfeld và cộng sự (2017) đã nghiên cứu và cho ra kết quả thống nhất rằng những người có niềm tin vào năng lực bản thân và sự kỳ vọng cao vào những kết quả đạt được sẽ có khả năng trở thành CPA cao hơn những người còn lại. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chỉ CPA Từ thực tế tìm hiểu về các lý thuyết cùng những bài nghiên cứu có liên quan đến ý định hành vi của con người nói chung và ý định dự thi CPA nói riêng, các yếu tố dưới đây được nhóm nghiên cứu cân nhắc và chọn lọc trở thành đối tượng nghiên cứu, cụ thể như sau: Kết quả kỳ vọng Theo Bandura (1997), kỳ vọng về kết quả là “niềm tin của một người rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn đến những kết quả nhất định”. Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa những kết quả kỳ vọng và tác động của chúng đến ý định hành vi của con người, Maddux và cộng sự (1986) đã chỉ ra: “Sự tác động chủ yếu đến ý định thực hiện hành vi được liên kết với sự điều chỉnh kỳ vọng về kết quả”. Điều này có nghĩa là khi một người thay đổi những gì mà họ mong đợi sẽ xảy ra nếu thực hiện một hành động thì sự thay đổi kỳ vọng đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi của họ.
Do đó, Maddux và cộng sự (1982) đã đi đến kết luận rằng: “Sự gia tăng trong kỳ vọng về kết quả của một hành vi sẽ dẫn đến sự gia tăng trong ý định thực hiện hành vi đó”. Dễ dàng nhận thấy rằng các cá nhân sẽ có ý định thực hiện một hành vi nhiều hơn nếu họ tin rằng kết quả của hành vi đó sẽ tích cực hoặc mang lại lợi ích cho họ. 10 Khi đưa yếu tố kết quả kỳ vọng vào nghiên cứu về sự ảnh hưởng đến ý định dự thi chứng chỉ CPA, Schoenfeld và cộng sự (2017) cho thấy sinh viên có kỳ vọng cao vào những kết quả đạt được khi sở hữu chứng chỉ CPA thì họ sẽ có khả năng dự thi cao hơn so với những người còn lại. Cụ thể, những kỳ vọng đã được nghiên cứu là thu nhập, công việc ổn định, tiềm năng thăng tiến, uy tín, cơ hội tự kinh doanh và tính chất công việc.
Tương tự, một số bài nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra tác động tích cực của kỳ vọng về cơ hội việc làm (Wen và cộng sự, 2015) và tính linh hoạt trong lựa chọn nghề nghiệp (Philip, 2010) đến ý định tham gia kỳ thi CPA của các sinh viên. Tuy nhiên, trên khía cạnh kỳ vọng về tài chính, nghiên cứu của Wen và cộng sự (2018) cũng như Philip (2010) lại không tìm thấy mối liên hệ đáng kể nào giữa yếu tố tài chính, lương thưởng với ý định tham gia nghề kế toán - kiểm toán hoặc dự thi chứng chỉ CPA của sinh viên. Điều này ngụ ý rằng tiền bạc không phải là kết quả kỳ vọng chính quyết định việc lựa chọn nghề nghiệp hoặc tham gia kỳ thi CPA. Nhìn chung, những kết quả trên cho thấy chiều hướng tác động của yếu tố các kết quả kỳ vọng đến ý định dự thi CPA chưa được thể hiện rõ ràng.
Niềm tin vào năng lực bản thân Bandura (1994) định nghĩa năng lực bản thân là niềm tin của một người vào khả năng thực hiện thành công một nhiệm vụ cụ thể của người đó.