Luận Văn Thạc Sĩ: Những Người Không Được Quyền Hưởng Thừa Kế Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành

Khám phá những quy định pháp luật hiện hành về quyền thừa kế và các trường hợp không được hưởng thừa kế trong luận văn thạc sĩ VNU LS.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2009

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

1.1.1. Khái niệm thừa kế

1.1.2. Quyền thừa kế

1.2. Khái niệm người thừa kế và người không được quyền hưởng di sản

1.2.1. Khái niệm người thừa kế

1.2.2. Người thừa kế có quyền hưởng di sản và người thừa kế không có quyền hưởng di sản

1.3. Tiến trình phát triển những qui định của pháp luật về người không được quyền hưởng di sản ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay

1.3.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945

1.3.2. Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Pháp lệnh Thừa kế 1990 được ban hành

1.3.3. Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 có hiệu lực đến năm 2005

1.3.4. Từ năm 2005 đến nay

2. CHƯƠNG 2: NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

2.1. Những trường hợp người thừa kế không có quyền hưởng di sản

2.1.1. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đó

2.1.2. Người vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản

2.1.3. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế có quyền được hưởng

2.1.4. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản

2.2. Hậu quả pháp lý của Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

3.1. Thực trạng pháp luật

3.2. Một vài ý kiến hoàn thiện các qui định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Những Người Không Được Quyền Hưởng Thừa Kế

Trong pháp luật Việt Nam, quyền thừa kế là một vấn đề quan trọng, liên quan đến việc chuyển giao tài sản từ người đã mất cho người còn sống. Tuy nhiên, không phải ai cũng có quyền hưởng thừa kế. Có những trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định rõ ràng về những người không được quyền hưởng di sản. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người để lại di sản mà còn đảm bảo tính công bằng trong xã hội.

1.1. Khái Niệm Về Người Thừa Kế Và Người Không Được Quyền Hưởng

Người thừa kế là những cá nhân được pháp luật hoặc di chúc chỉ định để nhận di sản. Ngược lại, những người không được quyền hưởng di sản thường là những người đã có hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với người để lại di sản, như hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe.

1.2. Tại Sao Cần Quy Định Về Người Không Được Quyền Hưởng

Việc quy định rõ ràng về những người không được quyền hưởng di sản giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người để lại di sản. Điều này cũng tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc, ngăn chặn các hành vi lạm dụng và bảo vệ sự công bằng trong việc phân chia tài sản.

II. Những Trường Hợp Người Không Được Quyền Hưởng Thừa Kế Theo Pháp Luật

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, có nhiều trường hợp cụ thể mà người thừa kế không được quyền hưởng di sản. Những quy định này nhằm đảm bảo rằng những người có hành vi xâm phạm hoặc vi phạm nghĩa vụ đối với người để lại di sản sẽ không được hưởng lợi từ hành vi sai trái của mình.

2.1. Người Bị Kết Án Về Hành Vi Xâm Phạm

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản sẽ không được quyền hưởng di sản. Điều này nhằm ngăn chặn việc lợi dụng quyền thừa kế từ những hành vi phạm tội.

2.2. Người Vi Phạm Nghĩa Vụ Nuôi Dưỡng

Những người không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người để lại di sản cũng sẽ không được quyền hưởng thừa kế. Điều này thể hiện sự công bằng trong việc phân chia tài sản, đảm bảo rằng những người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ sẽ được hưởng lợi.

2.3. Người Có Hành Vi Lừa Dối Hoặc Cưỡng Ép

Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc cũng không được quyền hưởng di sản. Điều này nhằm bảo vệ ý chí của người để lại di sản và ngăn chặn các hành vi gian lận.

III. Hậu Quả Pháp Lý Đối Với Người Không Được Quyền Hưởng Thừa Kế

Hậu quả pháp lý đối với những người không được quyền hưởng thừa kế là rất nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, những người này sẽ không chỉ mất quyền hưởng di sản mà còn có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý khác nếu có hành vi vi phạm nghiêm trọng.

3.1. Mất Quyền Hưởng Di Sản

Người không được quyền hưởng di sản sẽ hoàn toàn mất quyền lợi từ tài sản của người để lại di sản. Điều này có thể gây ra những khó khăn lớn trong cuộc sống của họ.

3.2. Chịu Trách Nhiệm Pháp Lý

Ngoài việc mất quyền hưởng di sản, những người này có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý khác nếu hành vi của họ gây thiệt hại cho người khác hoặc vi phạm pháp luật.

IV. Thực Trạng Pháp Luật Về Người Không Được Quyền Hưởng Thừa Kế

Thực trạng pháp luật hiện nay về người không được quyền hưởng thừa kế còn nhiều vấn đề cần được cải thiện. Mặc dù có những quy định rõ ràng, nhưng việc áp dụng trong thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc.

4.1. Những Vướng Mắc Trong Áp Dụng Pháp Luật

Nhiều trường hợp tranh chấp về quyền thừa kế vẫn xảy ra do sự không rõ ràng trong quy định pháp luật. Điều này dẫn đến việc các cơ quan chức năng gặp khó khăn trong việc giải quyết các vụ việc liên quan.

4.2. Đề Xuất Hoàn Thiện Quy Định Pháp Luật

Cần có những điều chỉnh và bổ sung trong quy định pháp luật để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong việc phân chia tài sản thừa kế. Việc này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người để lại di sản mà còn đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế hợp pháp.

V. Kết Luận Về Những Người Không Được Quyền Hưởng Thừa Kế

Việc quy định rõ ràng về những người không được quyền hưởng thừa kế là rất cần thiết trong pháp luật Việt Nam. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người để lại di sản mà còn đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

5.1. Tương Lai Của Quy Định Về Thừa Kế

Trong tương lai, cần có những nghiên cứu và điều chỉnh để quy định về thừa kế ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với sự phát triển của xã hội và nhu cầu thực tiễn.

5.2. Vai Trò Của Pháp Luật Trong Bảo Vệ Quyền Lợi

Pháp luật cần đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người để lại di sản và những người thừa kế hợp pháp, đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong việc phân chia tài sản.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls những người không được quyền hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật hiện hành

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN 1. KHÁI NIỆM THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ 1. Khái niệm thừa kế Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật. Thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người.

Ngay từ thời sơ khai của xã hội loài người đã xuất hiện quan hệ sở hữu do đó thừa kế đã có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ này. Trong thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy những điều kiện về kinh tế, xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc. Chế độ mẫu hệ với địa vị chủ đạo của người phụ nữ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kế tài sản của các con và những người thân thuộc của người mẹ. Ăngghen viết: Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và trật tự thừa kế lúc ban đầu trong thị tộc, thì chỉ những người cùng họ hàng trong thị tộc đã chết.

tài sản phải để lại trong nội bộ thị tộc. vì tài sản để lại không có giá trị gì cho lắm nên trong thực tiễn có lẽ là từ xưa người ta vẫn trao tài sản cho những người bà con thân thuộc nhất về phía người mẹ… Lúc đầu chúng thừa kế người mẹ cùng với những người cùng huyết tộc với mẹ chúng, về sau có thể chúng là người đầu tiên kế thừa mẹ chúng [1, tr. Như vậy vào thời kỳ nguyên thủy, việc thừa kế được hình thành theo tập quán của thị tộc. Tài sản của thị tộc do người mẹ quản lý, khi người mẹ chết đi thì di sản được chuyển cho những người thân thích trong thị tộc và tài 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản của thị tộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Đây chính là hình thức thừa kế đầu tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm tiếp tục duy trì cuộc sống chung cho thị tộc. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã làm thay đổi địa vị của người phụ nữ. Sự ra đời của nhiều ngành nghề mới như nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt đòi hỏi sức khỏe và trí tuệ của người đàn ông, sản phẩm lao động mà người đàn ông làm ra không những đủ nuôi sống gia đình mà còn tạo ra nhiều của cải dư thừa. Địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng thị tộc bộ lạc dần dần được thiết lập.

Đặc biệt khi nhà nước ra đời và qui định chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã làm cho con cái biết rõ cha mẹ mình. Từ đó trong quan hệ gia đình xác lập huyết thống theo họ cha và chế độ gia đình phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ đã dần mờ nhạt thay bằng chế độ phụ hệ với vai trò gia trưởng đặc trưng của người đàn ông. Các con trong gia đình có huyết thống với người cha sẽ mang họ cha và được thừa kế tài sản của cha "thế là huyết thống theo họ mẹ và quyền thừa kế theo mẹ đã bị xóa bỏ, huyết tộc theo họ cha và thừa kế cha được xác lập".

Như vậy qua mỗi một thời kỳ, qua mỗi một giai đoạn phát triển của xã hội loài người tương ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình thì việc điều chỉnh quan hệ sở hữu có thay đổi dẫn theo sự thay đổi của các quan hệ thừa kế đó là do các nguyên nhân về kinh tế, về quan hệ huyết thống, và về quan hệ hôn nhân trong xã hội quyết định. Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và thừa kế đã xuất hiện như một yếu tố khách quan. Thừa kế xuất hiện nó phụ thuộc vào chế độ sở hữu. Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để xuất hiện quan hệ sở hữu thì thừa kế là phương tiện duy trì củng cố quan hệ sở hữu.

Khi xã hội phân chia thành giai cấp và chế độ tư hữu được hình thành, giai cấp thống trị chiếm hữu hầu hết tư liệu sản xuất và truyền lại cho con cháu nên địa vị thống trị được củng cố từ đời này sang đời khác. Việc thừa kế 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài sản là sự chuyển dịch công cụ, phương tiện bóc lột của giai cấp thống trị cho con cháu nhằm tiếp tục xác lập quyền lực về chính trị, kinh tế đối với những người lao động. Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người quan hệ thừa kế có tính kế thừa các giá trị vật chất và tinh thần của gia đình và dòng tộc. những thành quả lao động của gia đình như nhà ở và những của cải để dành khác, đây là những thành quả lao động mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau bởi nhà ở và các tài sản khác không những là tài sản có giá trị lớn mà nó còn thể hiện giá trị văn hoá đã tồn tại và phát triển qua các thời kỳ lịch sử.

Ở Việt Nam, việc thừa kế di sản đã hình thành theo tập quán của từng dân tộc, từng vùng miền, thậm chí việc chia di sản thừa kế còn theo truyền thống của dòng tộc. Con cháu trong gia đình được hưởng di sản từ ông bà, cha mẹ và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, việc thờ cúng tổ tiên nhắc nhở con cháu nhớ công ơn của người đã chết. Đây là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam được lưu truyền đến ngày hôm nay và được kế thừa cho đến mai sau. Với quan điểm cho rằng những quan hệ hôn nhân và gia đình sinh ra con người, gia đình và xã hội và từ đó trở thành nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng khác trong tự nhiên và trong xã hội.

Ở Việt Nam, dân tộc Chăm có những nét văn hóa, phong tục rất điển hình về quan hệ gia đình. Xã hội của người Chăm ở Ninh Thuận là xã hội tổ chức theo chế độ mẫu hệ nên vai trò của người phụ nữ trong xã hội được đề cao. Họ quan niệm rằng: "Likei dơng di mưthut, kamei dơng di mưnưk" có nghĩa là " Phận của đàn ông là chiến đấu, phận của đàn bà là sinh nở" tức là phụ nữ phải cai quản gia đình, đàn ông toàn quyền cai quản xã hội. Chính quan niệm như thế nên chế độ mẫu hệ đã tồn tại cùng lịch sử xã hội Chăm.

Và từ đó mà trong hệ thống luật tục của người Chăm ở Ninh Thuận qui định về thừa kế rất đơn giản. Người con gái út được hưởng toàn bộ hay hầu hết của cải của gia đình như quần áo cúng tế, nồi đồng, mâm đồng, chén bát… để thờ cúng tổ tiên. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với các loại tài sản khác như nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò… khi cha mẹ còn sống thì có thể trích cho con gái lớn một phần tài sản khi họ lập gia đình ở riêng, trích một phần cho con trai làm của hồi môn khi được vợ cưới, còn khi cha mẹ chết thì phần lớn tài sản do con gái út thừa kế, phần nhỏ chia cho chị gái. Luật tục cũng không qui định cụ thể là chia bao nhiêu tất cả do em gái út quyết định.

Các anh, em trai không được quyền hưởng tài sản thừa kế của cha mẹ dù anh ta có công đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình khi cha mẹ còn sống. Có thể đưa ra một số nguyên nhân lý giải về vấn đề này, trong gia đình người Chăm con gái lớn khi lập gia đình thường tách ra ở riêng, con trai thì về nhà vợ nên ở lại với cha mẹ phần lớn lúc cao tuổi chỉ còn con gái út. Con gái út vì thế có công trong việc giữ gìn và phát triển khối tài sản của gia đình và cũng chính người con gái út là người có trách nhiệm cúng tế trong gia đình và phải chăng vì lẽ đó tài sản của cha mẹ thuộc về con gái út. "Thừa kế" theo Từ điển Tiếng Việt là "hưởng của người đã chết để lại cho" [37, tr.

938] hưởng ở đây chính là sự dịch chuyển quyền sở hữu những tài sản cũng chính là những của cải mà người chết để lại cho người còn sống. Nội dung của sự dịch chuyển này có thể theo phong tục tập quán hoặc theo qui định của pháp luật phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Như vậy, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc. Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển những giá trị vật chất, tinh thần và những truyền thống, tập quán do thế hệ trước để lại.

Quyền thừa kế Nếu thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong một xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật thì quyền thừa kế chỉ có thể sinh ra và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp, trong xã hội đã có nhà nước và pháp luật. Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước qui định quyền để lại thừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qui định trình tự và các điều kiện dịch chuyển tài sản cũng như qui định các phương thức dịch chuyển tài sản từ người chết sang những người còn sống khác. Tuy nhiên, mỗi một chế độ xã hội khác nhau sẽ có sự khác nhau trong qui định về quyền thừa kế. Thậm chí ngay trong một chế độ xã hội nhưng ở từng giai đoạn khác nhau sẽ có sự khác nhau trong qui định về quyền thừa kế.

Điều đó có nghĩa là chế độ thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của một nhà nước và đặc biệt là do chế độ sở hữu quyết định. Vì vậy trong mỗi chế độ xã hội, chế độ thừa kế thường tồn tại tương ứng và có liên quan mật thiết, song song tồn tại với chế độ sở hữu. Từ việc pháp luật qui định chế độ sở hữu cùng với các quyền năng đối với tài sản của cá nhân thì theo đó pháp luật qui định cho họ những quyền năng trong lĩnh vực thừa kế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Những Người Không Được Quyền Hưởng Thừa Kế Theo Pháp Luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến những cá nhân không đủ điều kiện để hưởng thừa kế theo luật. Bài viết nêu rõ các trường hợp cụ thể và lý do mà một người có thể bị tước quyền thừa kế, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các vấn đề thừa kế.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls người không được quyền hưởng di sản theo bộ luật dân sự năm 2015, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các quy định hiện hành. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận phân chia di sản thừa kế những vấn đề lý luận và thực tiễn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề lý luận liên quan đến thừa kế. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo pháp luật dân sự việt nam, để có cái nhìn toàn diện hơn về các hình thức thừa kế khác nhau. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào lĩnh vực thừa kế và các quy định pháp lý liên quan.