Chương 1: Lý luận chung về thừa kế và người không được hưởng di sản thừa kế Chương 2: Người không được quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 Chương 3: Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về người không được hưởng quyền di sản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƢỜI THỪA KẾ VÀ NGƢỜI KHÔNG ĐƢỢC HƢỞNG DI SẢN THỪA KẾ 1.Lý luận chung về ngƣời thừa kế 1.Khái niệm người thừa kế Người thừa kế là một khái niệm đã xuất hiện từ khi xuất hiện chế định pháp luật thừa kế. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật thừa kế Việt Nam chưa có quy định thế nào là người thừa kế. Về người thừa kế, qua các chế độ xã hội khác nhau nhưng cùng theo quan điểm chung là những người đó được hưởng di sản do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo đó, người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản của người chết để lại theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt trước khi họ chết.
Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức tùy theo sự định đoạt của người để lại di chúc. Người thừa kế có thể là người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người chết hoặc không có các mối quan hệ này. Mặt khác, phạm vi những người thừa kế theo pháp luật còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp của từng thời kỳ lịch sử của một quốc gia nhất định. Cụ thể: Ở Việt Nam trước năm 1945, dưới chế độ thực dân phong kiến với ý thức hệ bảo vệ chế độ tư hữu tài sản nhằm duy trì sự bóc lột, giai cấp thống trị thường đề cao quyền sở hữu và xem nó là quyền thiêng liêng, luôn được quan tâm nhằm duy trì gia đình nội tộc.
Do đó, quan hệ huyết thống luôn được đề cao và quan trọng nhất trong việc xác định những người có quyền thừa kế. Dưới chế độ dân chủ, nhân dân ta kể từ năm 1945 đến nay, người thừa kế theo pháp luật đã được mở rộng (nếu xét theo quan hệ huyết thống). Pháp luật thừa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kế nước ta, đã dần xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong việc xác định người thừa kế. Quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng, giữa các con trong gia đình đã được pháp luật quy định, loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của vợ góa và con gái đã kết hôn với người khác nhưng vẫn thuộc diện thừa kế của người chồng đã chết.
Hiện nay, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người thừa kế theo hàng thừa kế, khi đó trình tự thừa kế sẽ do pháp luật quy định. Đó là những người có một trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại disản. Theo Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý làm chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội năm 1998 thì chỉ có chế định thừa kế là "được hưởng tài sản của cải do người chết để lại cho" [16, tr 35] và Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2003 quy định thừa kế là "hưởng của người chết để lại cho" [47, tr 41] chứ không có định nghĩa thế nào là người thừa kế. Khái niệm người thừa kế đã được giải thích trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân, 1999 của Trường Đại học Luật Hà Nội có giải thích về người thừa kế là "Người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" [40, tr 15].
Hiện nay, trong BLDS năm 2005 có quy định về người thừa kế như sau: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (Điều 635 BLDS 2005). Kế thừa quy định này, tại Điều 613 BLDS 2015BLDS 2015 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
BLDS 2015 quy định về cơ bản giống như BLDS 2005, song chỉ đề cập đến trường hợp không phải là cá nhân mà không liệt kê các trường hợp như cơ quan, tổ chức như BLDS 2005. Tuy nhiên, quy định của cả hai BLDS trên đều không phải là một khái niệm mà đó là quy định về điều kiện của người thừa kế. Người thừa kế được hưởng di sản hợp pháp mà người để lại di sản thừa kế khi đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định. Việc định đoạt di sản hợp pháp của mình đối với người để lại di sản thừa kế hợp pháp của mình có thể được thông qua di chúc và/hoặc theo pháp luật.
Cụ thể: * Ngƣời thừa kế theo di chúc Người thừa kế theo di chúc là người được xác định do ý chí của người có di sản nên phạm vi những người được hưởng di sản theo di chúc rộng hơn rất nhiều so với người được hưởng di sản theo pháp luật. Người thừa kế theo di chúc có thể là bất kỳ cá nhân nào, nếu được chỉ định trong di chúc mà không cần xét đến những quan hệ khác của họ đối với người để lại di sản. Người thừa kế theo di chúc có thể là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản, pháp luật không quy định phạm vi những người được hưởng thừa kế theo di chúc mà việc được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của họ để lại cho những người thừa kế. Phần di sản mà mỗi một người thừa kế được hưởng theo di chúc được hưởng có thể bằng nhau, nhiều hơn hoặc ít hơn nhau, điều này tùy thuộc vào việc phân định di sản của người lập di chúc định đoạt.
Tuy nhiên, theo quy định hiện hành thì có những trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc – tức là dù người để lại di sản có chia tài sản trong di chúc cho những người này hay không thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, đó là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động (trừ trường hợp người này từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản) (Điều 644 BLDS 2015). * Ngƣời thừa kế theo quy định của phápluật Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân bất kỳ ai, là người thuộc diện hay không không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản kể cả cơ quan, tổ chức được hưởng di sản do ý chí của người để lại di sản quyết định thì người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những người thuộc diện thừa kế theo luật được quyền hưởng di sản một cách bình đẳng, ngang nhau giữa những người thừa kế cùng hàng. Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015BLDS năm 2005 quy định người thừa kế theo luật được quy định theo thứ tự sau: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Nguyên tắc khi chia tài sản theo luật đó là: Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản (Khoản 2 Điều 651 BLDS 2015). 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những lý luận về người thừa kế như đã trình bày, theo quan điểm tác giả, người thừa kế có thể được định nghĩa như sau: Người thừa kế là chủ thể được quyền hưởng di sản hợp pháp của người chết để lại theo di chúc và/hoặc theo pháp luật.2 Đặc điểm pháp lý của người thừa kế Thứ nhất, như phân tích ở phần khái niệm, người thừa kế có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Theo đó, người thừa kế theo pháp luật chỉ có cá nhân, không có tổ chức – tức là theo quy định của pháp luật dân sự về hàng thừa kế thì có ba hàng thừa kế đều là cá nhân, là những người có quan hệ huyết thống, thân thích hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản; chính bởi ba yếu tố trên nên vấn đề thừa kế theo pháp luật là tổ chức không thể đặt ra. Khác với người thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc sẽ do chính người có di sản để lại quyết định chủ thể được hưởng di sản của mình nên thực tế và theo quy định của pháp luật thì chủ thể hưởng di sản của người đó ngoài cá nhân, còn có thể là tổ chức.
Điểm lưu ý là điều kiện để hưởng di sản thừa kế dù cá nhân hay tổ chức được hưởng di sản thì phải còn sống, phải còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế [46, tr 22, 23].