Chương I NHUNG VAN DE CHUNG VE DESAN THỪA KE 1. Khái niệm di sản thùa kế Thừa kế với ý nghĩa là phạm trù kinh tế xuất hiện từ thời kỳ xa xưa của xã hội loài người, theo đó có thể hiểu đó là sự địch chuyển tài sản thuộc sở hữu của người chết cho những người còn sống dựa trên quan hệ huyét thống và theo phong tục tập quán của địa phương. Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có quyền và có nghĩa vụ nhất định. Trong quan hệ này người có tài sản là người để lại thừa kế, trước khi chết có quyền để lại tài sẵn của mình cho những người còn sống khác.
Người thừa kế là người được nhận di sản của người chết dịch chuyển cho mình theo ý chí của họ hoặc theo pháp luật. Đối tượng của thừa kế là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết-tức người để lại thừa kế. Người để lại di san thừa kế là cá nhân. Cơ sở để cá nhân để lại thừa kế tài sản là quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân đó.
Cá nhân chỉ được quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình lúc còn sống. Sở dĩ pháp nhân, tổ chức không phải là người để lại thừa kếvì tài sản của pháp nhân, tổ chức thuộc sở hữu chung của các cá nhân thành viên của tổ chức đó. Việc định đoạt tài san đó thuộc về các thành viên của tổ chức mà không một cá nhân nào có quyền quyết định. Vì thế pháp nhân, tổ chức không phải là người để lại thừa kế.
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dan được luật pháp của các quốc gia ghi nhận. Hiến pháp 1992-van ban pháp lý cao nhất của nước ta đã quy định tại điều 58 về quyền thừa kế của công dân:” Cong dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để piành, nhà ở, tr liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và các tài sản khác trong đoanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân. Khi một người chết, những tài sản kể trên thuộc quyền sở hữu của người đó được truyền lại cho những người thừa kế gọi là di sản.
Thừa kế 1 Luận án tốt nghiệp Tran Tha Huệ một trong những quyền quan trọng và có ý nghĩa thực tế trong các quyền của công dân. Điều 634 Bộ luật dân sự đã quy định :"Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật". Theo quy định tại Điều 637 Bộ luật dân sự thì: "I. Di sẵn bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài san chung với người khác.
Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sẵn thừa kê và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này” (tức Bộ luật dân sự). Như vậy, di sản thừa kế là toàn bộ những tài sẵn thuộc quyền sở hữu của người chết bao gồm tài sản riêng, phần tài sẵn trong khối tài sản chung, cũng như các quyền về tài sản, quyền sử dụng đất mà người đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao khi còn sống. Tài sản là khách thể của quyển sở hữu, là đối tượng của phần lớn những quan hệ pháp luật dân sự và có thể trở thành di sẵn thừa kế. Tuy nhiên, không phải bất kỳ một vật thể khách quan nào của tự nhiên cũng đều là tài sản và là đi sản thừa kế.
Vật thể hay những quyền tài sẵn muôn trở thành di sẵn thừa kế trước hết phải có những đặc trưng là tài sẵn được quy định tại Điều 172 Bộ luật dân sự. Đó là: - Vat có thực: là những vật tồn tại một cách khách quan, là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người về sản xuất, kinh doanh hay tiêu đùng mà con người có thể chiếm giữ, quản lý chúng. Điều đó có nghĩa là không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất cũng có thể đáp ứng được yêu cầu có thể đưa vào giao lưu dân sự. Chẳng hạn ô-xy là một bộ phận của thế giới vật chất đáp ứng mội nhu cầu rất quan trọng của con người là để thở nhưng nếu 6-xy khi còn là dạng không khí chúng chưa thể coi đó là vật có thực, chưa thé dua vào giao lưu dân sự.
Chỉ khi nào ô-xy được nén vào bình để con người có thể nắm giữ quan lý, làm chủ và chi phối nó theo ý chí của mình, đặc biệt là phải có giá trị, tính được bằng tiền, thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và trở thành tài san. Vật có thực là tài sản phổ biến, da dang và thong dụng nhat trong đời sống xã hội, trong giao lưu dân sự. - Tién: Theo kinh tế chính trị học thì tiền là thước đo giá trị chung, là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hoá và là phương, tiện lưu thông Luận án tốt nghiệp Tran Thị Iiuệ trong giao lưu dân sự, với ý nghĩa này tiền được coi là tài sản quý giá và về phương diện chính trị pháp lý tiền còn là tư cách đại diện cho chủ quyền của một quốc gia - Giấy tờ trị giá được bằng tién. Trong điều kiện của nền kinh tế thi trường các quan hệ kinh tế (dân sự, lao động, thương mại, tài chính.) phát triển đa dạng phong phú và rất sôi động, các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền như cổ phiếu, trái phiếu, séc, công trái, tín phiếu, kỳ phiếu, số tiết kiệm.
được sử dụng tương đối phổ biến. Những loại giấy tờ này thể hiện những khoản tiền nhất định mà chủ thể có được khi xuất trình nó trước mội tổ chức có chức năng thanh toán (Ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng.) - Các quyền tài sản. Đây là những quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu đân sự, hoặc khi thực hiện các quyền đó chủ sở hữu sẽ có được một tài sản. Đó là quyền đòi nợ, đòi bồi thường thiệt hại; quyền đối với phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dang công nghiệp; quyền sử dung đất; quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 188 Bộ luật dân sự quy định :"Quyén tài san là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự kể cả quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Phần thứ sáu của Bộ luật này”. Như vậy, để các quyền tài san trở thành tài san, thì các quyền này phải đáp ứng được hai yêu cầu là: trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Điều 172 Bộ luật dân sự chỉ hoạch định mang tính liệt kê tài sản bao gồm những gì, mà không quy định thế nào là tài sản. Nhưng tài sản cần phải hiểu chính là những của cai vật chất nằm trong sự chiếm giữ và chỉ phối của con người, được con người khai thác để mang lại lợi ích.
Lúc sinh thời một người có quyền sở hữu đối với những tài sản của mình, mà quyền sở hữu do bản chất là một quyền vĩnh cửu, do tính chất vĩnh cửu này mà quyền sở hữu phải được dịch chuyển từ đòi này sang đòi khác. Có như vậy mới tạo ra tình trạng kinh tế ổn định cho gia đình và cho xã hội. Mặt khác, về phương diện đạo đức thì bổn phận của mỗi người đối với những người thân với gia đình và con cháu của họ không chỉ trong thời gian ho còn sống mà còn có bổn phận cả sau khi chết tức là phải để lại của Luận án tô! nghiệp Tran Vii Hue cải để thế hệ sau gây dung va phát triển san nghiệp của gia đình, của dòng họ. Toàn bộ tài san của một người chết đi để lại gọi là di san.
Di san thừa kế bao gồm: 1.1 Tài sản riêng của người chết Đây là loại tài sản chiếm tỷ lệ đáng kể trong khối tài sản mà người chết để lại. La phần tài san do người đó tao ra bằng các khoản thu nhập hợp pháp hoặc được người khác tang cho, để lại thừa kế. Khaí niệm tài sân riêng được sử dụng trong Điều 637 Bộ luật Dân sự nhằm để xác định tài sẵn nào là tài sản riêng của người vợ, người chồng. Trước khi kết hôn, người vợ hoặc người chồng thường là những công dân hoạt động bình thường trong xã hội, họ học tập, lao động sản xuất để bắt đầu tạo lập cuộc sống cho mình và chuẩn bị "hành trang” bước vào "dời sống hôn nhân", vun dap cho một gia đình hạnh phúc mà mỗi bên hằng mong muốn.
Trước khi kết hôn giữa họ chưa có sự ràng buộc về mặt pháp lý. Bởi vậy, tài sản của họ có trước khi kết hôn phải được coi là tài sản riêng. Tài sản của vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn có thể là những thu nhập do lao động, do hoạt động san xuất kinh doanh hợp pháp của mỗi người tạo ra, cũng có thể vợ hoặc chồng được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân. không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.
Điều 16 LHN-GĐ năm 1986: "Đối với tài san mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài san được cho riêng hoặc được thừa kế riêng trong thời ky hôn nhân thì người có tài sản riêng đó có quyền nhập hoặc không nhập vào tài sản chung của vợ, chồng” Bao gồm: Tư liệu sinh hoạt: quần áo, giường tủ, tivi, tủ lạnh, xe máy, xe đạp, máy thu thanh, tác phẩm nghệ thuật, đồ trang sức bằng vàng, kim khí quý, đá quý. Tư liệu sẵn xuất: Trong những năm gần đây dưới ánh sáng của nghị quyết đại hội Dang lần thứ VI và đặc biệt là nghị quyết đại hội Dang lần thứ VỊI và VIII Nhà nước ta có nhiều chủ trương đổi mới kinh tế nhằm phát huy tác dụng của các thành phần kinh tế tạo cơ sở cho việc đan xen cùng phát triển của các loại hình doanh nghiệp và các loại hình san xuất kinh doanh khác nên phạm vi tài sản thuộc quyền sở hữu của công dan được mở rộng hơn.