Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THẾ VỊ 1.1 Khái niệm thừa kế. Thừa kế Con người không thể sống khi không có tài sản để thoả mãn các nhu cầu thiết yếu của mình. Khi sống, con người khai thác công dụng của tài sản để thoả mãn cho nhu cầu của mình; khi chết, tài sản còn lại của họ được dịch chuyển cho người còn sống. Quá trình dịch chuyển đó được gọi là thừa kế.
"Thừa" và "kế" đều có nghĩa là tiếp nối, tiếp tục. Theo quan niệm truyền thống, "thừa kế" được hiểu là việc người đang còn sống thừa hưởng tài sản của người đã qua đời.Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sản chết. Mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình sau khi chết cho người khác. Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa thừa kế là “Sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống.
Từ điển Luật học định nghĩa: "Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Như vậy, nhìn một cách tổng quan thì thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống. Thừa kế luôn gắn với sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu. Pháp luật quy định hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tham khảo pháp luật của Thái Lan, Điều 1599 - Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Khi một người chết, tài sản của người đó được để lại cho những người thừa kế. Và, Điều 1602: “Khi một người được coi là đã chết theo quy định của Điều 65 của Bộ luật này, thì tài sản của người đó được để lại cho người thừa kế của người đó” [21, tr. Thừa kế còn có nghĩa thứ hai đồng nghĩa với kế thừa là: "Thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy" (nghĩa này chỉ dùng trong những trường hợp cái được thừa hưởng mang giá trị tinh thần). Vì thế, có thể nói rằng thừa kế là việc kế thừa những di sản văn hóa của dân tộc, là sự thừa hưởng của thế hệ sau đối với những giá trị tinh thần của thế hệ trước.
Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ khai của xã hội loài người. Ngay từ thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy, chế độ thị tộc, bộ lạc đã hình thành và tài sản có được thuộc về quyền chung của thị tộc, bộ lạc thì thừa kế cũng đã manh nha hình thành theo tập tục. Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định. Nghiên cứu về thừa kế, Ph.
Ăngghen đã nhận xét: "Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ". (Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước – Nxb. Sự thật, Hà Nội, năm 1961).
Sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống. Theo tiến trình phát triển của xã hội, tương ứng với 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từng giai đoạn lịch sử phát triển nhất định là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình, của sự thay đổi quan hệ sở hữu và theo đó việc thừa kế tài sản cũng thay đổi. Thừa kế với nghĩa là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các chủ thể của quan hệ thừa kế tham gia vào việc nhận di sản thừa kế. Người được hưởng tài sản của người chết để lại gọi là người thừa kế.
Người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, mà không bao giờ là pháp nhân, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức; nhưng người thừa kế có thể là cá nhân, hoặc cơ quan nhà nước, hoặc bất kể một chủ thể nào khác. Như vậy, thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Thừa kế là một thực tế xã hội được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống, nó gắn chặt với lợi ích của cá nhân, gia đình, cộng đồng dòng họ., vì thế trong bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có sự tác động của các quy tắc xã hội. Quy tắc đó được biểu hiện ở những yếu tố như phong tục, tập quán và cao hơn nữa là quy phạm pháp luật.
Có thể thấy rằng, thừa kế tài sản là phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản (từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến xã hội hiện đại ngày nay) được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống (bao gồm cá nhân, tổ chức) theo các nguyên tắc, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Thừa kế không những là phạm trù kinh tế, phạm trù pháp luật mà còn mang tính lịch sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét quá trình phát triển kinh tế - xã 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội theo từng giai đoạn phát triển nhất định. Quyền thừa kế Nếu thừa kế là nhóm những quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong một xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và nó mang tính kinh tế - tài sản thì quyền thừa kế chỉ có thể phát sinh trong một xã hội có nhà nước và pháp luật. Khi nhà nước xuất hiện, bằng pháp luật, nhà nước tác động đến quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống, trong đó, quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di sản của các chủ thể được nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật.
Từ đó, quá trình dịch chuyển di sản được gọi là quyền thừa kế. Nói cách khác, quyền thừa kế là phạm trù pháp lý mà nội dung của nó là xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế. Quyền thừa kế được hiểu là một bộ phận của chế định thừa kế, do vậy nó chứa đựng những yếu tố, tính chất, đặc điểm của một chế định pháp luật. Quyền thừa kế là chế định pháp luật bảo hộ quyền của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trong việc chuyển dịch tài sản để lại sau khi họ chết cho những người còn sống có quyền hưởng thừa kế theo hình thức nhất định (theo di chúc hoặc theo pháp luật).
Quyền thừa kế gắn liền với quyền sở hữu tài sản của cá nhân, vì vậy, Điều 58 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân." Các hình thức dịch chuyển di sản của một người đã chết cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật là những cơ sở xác lập quyền sở hữu đối với di sản của người được hưởng thừa kế hợp pháp. Trong pháp luật dân sự Việt Nam, quyền để lại di sản của người có tài sản cho người thừa kế, và quyền thừa kế di sản của người khác là hai nội 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dung cơ bản của quyền thừa kế được pháp luật công nhận và bảo vệ. “Quyền thừa kế” được quy định tại khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Điều 648 – BLDS năm 1995 và đến nay được kế thừa tại Điều 631 - BLDS năm 2005: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.” Chế định quyền thừa kế không những điều chỉnh phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc để lại di sản và nhận di sản thừa kế mà còn là phương thức bảo vệ quyền của những người thừa kế hợp pháp khi bị xâm phạm. Nghị quyết số 02/2004/NQ - HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (Sau đây gọi là Nghị quyết số 02/2004/NQ - HĐTP) hướng dẫn quyền thừa kế bao gồm “quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác.” Như vậy, quyền để lại di sản của người có tài sản cho người thừa kế, và quyền thừa kế di sản của người khác là hai nội dung cơ bản của quyền thừa kế được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tuy vậy, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau sự quy định cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu trong xã hội đó. Vì vậy, quyền thừa kế mang bản chất giai cấp sâu sắc. Quyền thừa kế trong điều kiện của nước ta hiện nay được thể hiện như một phương tiện để củng cố sở hữu của công dân, củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình; bảo vệ lợi ích của những người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.2 Khái niệm thừa kế thế vị và đặc điểm của thừa kế thế vị.1 Khái niệm thừa kế thế vị. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Thế vị" theo nghĩa triết tự là thay thế vị trí.