Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm và đặc điểm thừa kế quyền sử dụng đất 1. Thừa kế quyền sử dụng đất “Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống” [34, tr. 754] hay nói cách khác thừa kế có thể được hiểu là thừa hưởng một cách kế tục tài sản do người khác để lại với sự kiện một người có tài sản chết đi và tài sản do người này để lại sẽ được chuyển dịch cho người khác chiếm hữu, sử dụng và định đoạt.
Sự chuyển dịch tài sản từ người chết sang người còn sống là sự kiện diễn ra thường xuyên, liên tục và diễn ra ở bất kỳ xã hội nào. Như vậy, thừa kế có thể được xem là một phạm trù kinh tế, xuất hiện và tồn tại trong bất cứ chế độ xã hội nào, kể cả khi xã hội chưa có Nhà nước và pháp luật. Thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh gắn liền với sự kiện một cá nhân chết và có tài sản để lại vì vậy có thể hiểu thừa kế là sự chuyển dịch tài sản từ người đã chết cho người còn sống tại thời điểm mở thừa kế. Từ đó tài sản được chuyển dịch từ người này sang người khác đảm bảo về tính nguồn gốc và sự chuyển giao, luân chuyển cũng như ý nghĩa kinh tế của tài sản.
Xét một cách tổng quát thì thừa kế là sự phản ánh chế độ xã hội và sự phát triển kinh tế-xã hội qua từng thời kỳ, vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan với nội dung là sự dịch chuyển tài sản từ người chết sang người còn sống theo những quy định, quy tắc do con người đặt ra. Khi xã hội có Nhà nước, thừa kế là một phạm trù pháp luật, phản ánh nền kinh tế, chính trị xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ, thể hiện sự dịch chuyển tài sản từ người chết sang người còn sống theo các quy định của pháp luật. Khi xã hội xuất hiện Nhà nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà nước ban hành pháp luật và áp đặt ý chí lên các chủ thể để điều chỉnh các quan hệ 8 trong xã hội, trong đó có quan hệ về thừa kế.
Theo đó, mỗi chủ thể sẽ có quyền và nghĩa vụ cụ thể. Pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền để lại tài sản cũng như quyền được hưởng di sản của các chủ thể và quan hệ pháp luật về thừa kế được ghi nhận bằng pháp luật. Từ đó, quá trình chuyển dịch di sản của người chết cho người sống phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và được gọi là quyền thừa kế. Di sản thừa kế ”là tài sản mà người chết để lại” [34, tr.
Di sản được hiểu là tài sản trong quan hệ thừa kế, là đối tượng được chuyển dịch, là việc di chuyển các quyền năng đối với tài sản từ người chết sang người sống. Đây là cách hiểu mang màu sắc pháp lý. Để thuận tiện cho việc thực hiện, áp dụng pháp luật một cách thống nhất và đồng bộ các nhà làm luật luôn quy định di sản thừa kế một cách cụ thể hơn. Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật cũng thay đổi cho phù hợp với những điều kiện kinh tế-xã hội.
Khi nghiên cứu về di sản thừa kế, tác giả ủng hộ quan điểm di sản thừa kế bao gồm tài sản, quyền tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác và các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. QSDĐ là “Quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế hoặc tặng cho… từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất” [34, tr. 754] hay “Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước” [34, tr. QSDĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với khía cạnh kinh tế, là tiền đề cũng như là tư liệu sản xuất bên cạnh đó “nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất” [31, tr.
QSDĐ là quyền tài sản theo Điều 181 BLDS 9 năm 2005: “là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự”. Như vậy, pháp luật đã khẳng định QSDĐ là một loại quyền về tài sản, có giá trị về kinh tế, được phép sử dụng tham gia các giao dịch trên thị trường như cho thuê, thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế,… Tuy nhiên, trong quan hệ dân sự thông thường thì người chủ sở hữu tài sản có quyền thực hiện đầy đủ các quyền năng của mình như chiếm hữu, sử dụng và đặc biệt là định đoạt số phận pháp lý của tài sản thông qua các hình thức khác nhau như bán, tặng cho, cho thuê, thế chấp hay để lại thừa kế tài sản phù hợp với các quy định của pháp luật thì đối với QSDĐ, người SDĐ chỉ có một số quyền năng cụ thể đối với QSDĐ được Nhà nước quy định tại PLĐĐ. Pháp luật các quốc gia trên thế giới cơ bản đều công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân dưới các khía cạnh như chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của họ. QSDĐ là tài sản đặc biệt nên đây cũng là một di sản đặc biệt của một người để lại khi họ chết.
“Thừa kế quyền sử dụng đất: Sự chuyển dịch quyền sử dụng đất của người chết cho người còn sống. Ở Việt Nam, với đặc thù đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu, Nhà nước chuyển giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân. Quyền sử dụng đất là quyền tài sản chung của hộ gia định hoặc quyền tài sản riêng của cá nhân, Bởi vậy, khi cá nhân hoặc thành viên trong hộ gia đình chết thì quyền sử dụng đất của họ được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật” [34, tr. 216] hay Điều 733, BLDS năm 2005 “Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.
Các quy định về thừa kế QSDĐ một lần nữa khẳng định QSDĐ là tài sản đặc biệt. Với tư cách tư liệu sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng, các chế định về thừa kế QSDĐ trước tiên nhằm điều chỉnh các quan hệ về thừa kế 10 QSDĐ và đảm bảo tính ổn định, lâu dài trong việc sử dụng, khai thác QSDĐ của các chủ thể, gắn kết con người với đất đai mà đặc biệt là đối với một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam khi có sự kiện pháp lý là người SDĐ chết. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thừa kế QSDĐ có thể được xem xét dưới các khía cạnh như sau: - Thừa kế QSDĐ là một quyền trong số các quyền năng cụ thể mà Nhà nước trao cho người SDĐ được ghi nhận trong pháp luật về đất đai. Thừa kế QSDĐ là một nội dung của QSDĐ; - Nếu xem xét dưới góc độ là một chế định pháp luật, thừa kế QSDĐ được hiểu là tổng thể các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển QSDĐ từ người đã chết sang những người còn sống bằng trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; - Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật dân sự, thừa kế QSDĐ là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển QSDĐ từ người chết sang cho người còn sống.
Với góc độ này, thừa kế QSDĐ bao gồm ba bộ phận: Chủ thể, khách thể, nội dung. Đặc điểm thừa kế quyền sử dụng đất Quan hệ thừa kế đối với các loại tài sản thông thường là không có sự khác biệt nhưng đối với tài sản là đất đai thì quan hệ thừa kế này có những khác biệt đặc trưng vì quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật đặc thù gắn với một loại tài sản đặc thù là đất đai. Đặc điểm cơ bản của thừa kế QSDĐ chính là tài sản, là QSDĐ - đối tượng và cũng là đích đến của quan hệ thừa kế QSDĐ. Đất đai là tư liệu sản xuất có giá trị trong bất kỳ giai đoạn nào của xã hội loài người.
Ở các quốc gia khác nhau thì các quy định pháp luật về đất đai là khác nhau tùy theo các chính sách chính trị, kinh tế cũng như lịch sử và các điều kiện lịch sử, tự nhiên, xã hội của mỗi quốc gia. Khi nói đến khía cạnh 11 pháp lý của đất đai, những nhà khoa học thường đi sâu vào khía cạnh quyền sở hữu đất đai thuộc về chủ thể nào của quốc gia và các quyền năng liên quan quyền sở hữu đất đai được quy định như thế nào trong pháp luật về đất đai cũng như vai trò của PLĐĐ trong hệ thống pháp luật của một quốc gia. Đối với Việt Nam, “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” theo Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đặc điểm cơ bản và cũng là nguyên tắc chính của PLĐĐ Việt Nam là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và các chủ thể khác là người được Nhà nước giao quyền sử dụng đối với đất đai.
Các hình thức sở hữu khác về đất đai không được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Việt Nam khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Chính sự đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã chi phối đặc biệt mạnh mẽ các quy định cụ thể của PLĐĐ và làm cho đất đai trở thành tài sản có những sự khác biệt đối với các loại tài sản thông thường. QSDĐ là một tài sản đặt biệt, chính vì vậy thừa kế QSDĐ vừa là đối tượng trong quan hệ PLĐĐ vừa là đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự.
Quan hệ thừa kế được điều chỉnh bởi BLDS, Luật Hôn nhân và gia đình. Quan hệ thừa kế là quan hệ pháp luật giữa những chủ thể có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng.