Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động mua bán nhà ở thương mại (NƠTM) hình thành trong tương lai (HTTTL) là một trong những phương thức kinh doanh bất động sản phổ biến, đóng vai trò kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp phát triển dự án. Tuy nhiên, do bản chất đối tượng giao dịch là tài sản chưa hiện hữu tại thời điểm ký kết hợp đồng, giao dịch này tiềm ẩn mức độ rủi ro rất cao cho các bên tham gia, đặc biệt là khách hàng mua nhà. Mặc dù Luật Kinh doanh bất động sản (KDBĐS) 2014 và Luật Nhà ở 2014 ra đời đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Luật KDBĐS 2006 và Luật Nhà ở 2005, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Khung pháp lý hiện hành vừa tồn tại các quy định chưa tương thích, vừa thiếu hụt các cơ chế kiểm soát cần thiết; đi kèm với đó là hiểu biết pháp lý hạn chế của người mua và sự thiếu nghiêm minh trong giám sát thi hành pháp luật. Hệ quả là hàng loạt vi phạm phát sinh như: chủ đầu tư (CĐT) vi phạm điều kiện mở bán, lừa đảo, chiếm dụng vốn, chậm tiến độ bàn giao hoặc bàn giao nhà ở sai lệch so với thiết kế cam kết, gây bất ổn cho thị trường bất động sản và xâm phạm quyền lợi của người mua.
Trước thực trạng đó, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản cùng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua bán NƠTM HTTTL.
- Khảo sát các vấn đề thực trạng nổi cộm, phân tích nguyên nhân pháp lý và nguyên nhân thực tiễn dẫn đến các hành vi vi phạm của CĐT.
- Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên mua – chủ thể yếu thế trong giao dịch.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán NƠTM HTTTL và thực tiễn thi hành các quy định này tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở loại hình nhà ở thương mại (không bao gồm nhà ở xã hội) và thu hẹp vào phân khúc nhà ở là nhà chung cư (NCC) hình thành trong tương lai (không nghiên cứu nhà ở riêng lẻ). Dữ liệu thực tiễn và văn bản quy phạm pháp luật được khảo sát tập trung theo các đạo luật hiện hành (Luật Nhà ở 2014, Luật KDBĐS 2014, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn) tính đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở pháp lý và lý luận dựa trên việc đối chiếu, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và luật chung trong hệ thống pháp luật Việt Nam, kết hợp so sánh với một số quy định pháp luật nước ngoài:
- Khung pháp lý trong nước: Bộ luật Dân sự qua các thời kỳ (BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS 2015 – đặc biệt là Điều 105, Điều 107, Điều 108 về phân loại tài sản hiện có và tài sản HTTTL); Nghị định 165/1999/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm; Luật Nhà ở 2005 và 2014; Luật KDBĐS 2006 và 2014; Luật Xây dựng 2014; Luật Đầu tư 2014; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010; Nghị định 99/2015/NĐ-CP; Nghị định 76/2015/NĐ-CP; Nghị định 43/2014/NĐ-CP; Nghị định 139/2017/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính; Thông tư 19/2016/TT-BXD; Thông tư 07/2015/TT-NHNN và Thông tư 13/2017/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước.
- Khung tham chiếu quốc tế: Khái niệm mua bán công trình HTTTL và thế chấp tài sản HTTTL theo BLDS Pháp (các quy định về mua bán nhà ở sẽ xây dựng theo phương thức hoàn thiện từng bước hoặc chìa khóa trao tay); quy định gián tiếp về tài sản HTTTL tại Điều 703, Điều 721 và Điều 761 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý thực tế:
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu sự phát triển của khái niệm tài sản HTTTL và các quy định pháp luật về mua bán NƠTM HTTTL qua các thời kỳ lập pháp (từ BLDS 1995, Nghị định 165/1999/NĐ-CP đến BLDS 2015).
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh giá điểm mới, sự tiến bộ của Luật KDBĐS 2014 và Luật Nhà ở 2014 so với Luật KDBĐS 2006 và Luật Nhà ở 2005; đối chiếu quy định trong nước với pháp luật Pháp và Thái Lan.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Mổ xẻ các điều khoản luật thực định, làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán NƠTM HTTTL, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, từ đó chỉ ra các kẽ hở pháp luật.
- Phương pháp liệt kê: Tổng hợp chi tiết các điều kiện kinh doanh, các loại hồ sơ, giấy tờ pháp lý bắt buộc và danh mục hành vi vi phạm.
- Phương pháp khảo sát thực trạng: Thu thập, phân tích các vụ việc tranh chấp, vi phạm điển hình của CĐT tại các dự án bất động sản thực tế ở TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về mua bán nhà ở thương mại hình thành trong tương lai
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh thị trường NƠTM HTTTL là nhà chung cư, bao gồm 6 nội dung trọng tâm:
- Khái quát NƠTM HTTTL: Khóa luận truy nguyên sự phát triển của khái niệm tài sản HTTTL trong pháp luật Việt Nam. BLDS 1995 chỉ công nhận "vật có thực", đến Nghị định 165/1999/NĐ-CP mới lần đầu tiên ghi nhận tài sản HTTTL trong giao dịch bảo đảm. BLDS 2005 mở rộng phạm vi của "vật", và BLDS 2015 tại Điều 108 đã phân định rành mạch: tài sản HTTTL bao gồm tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu sau thời điểm giao dịch. NƠTM HTTTL mang đầy đủ đặc tính của vật, bất động sản, tài sản HTTTL (chưa hoàn thành xây dựng, chưa nghiệm thu đưa vào sử dụng, bị hạn chế một số giao dịch như đổi, tặng cho, góp vốn theo Điều 118 Luật Nhà ở 2014) và mang đặc điểm riêng của NƠTM là đầu tư kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận theo cơ chế thị trường.
- Khái quát hoạt động mua bán NƠTM HTTTL: Phân tích bản chất của giao dịch mua bán NƠTM HTTTL: là hình thức kinh doanh bất động sản; đối tượng là tài sản đặc biệt chưa hiện hữu; là kênh huy động vốn trả chậm không tính lãi suất của CĐT (theo khoản 3 Điều 69 Luật Nhà ở 2014); bên bán bắt buộc phải là CĐT dự án đáp ứng các điều kiện pháp định (tư cách doanh nghiệp/hợp tác xã, vốn pháp định, vốn chủ sở hữu, ký quỹ); quá trình thực hiện hợp đồng kéo dài với nghĩa vụ thanh toán chia làm nhiều đợt.
- Điều kiện NƠTM HTTTL được phép đưa vào kinh doanh: Theo Điều 55 Luật KDBĐS 2014 và Điều 19 Nghị định 99/2015/NĐ-CP, CĐT phải thỏa mãn 3 nhóm điều kiện:
- Hồ sơ pháp lý đầy đủ: Giấy tờ quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công được duyệt, Giấy phép xây dựng, biên bản nghiệm thu hoàn thành hạ tầng kỹ thuật tương ứng và biên bản nghiệm thu hoàn thành phần móng (quy định tại Thông tư 19/2016/TT-BXD). Trường hợp có thế chấp dự án phải có giấy tờ giải chấp hoặc văn bản đồng ý cho bán của bên nhận thế chấp.
- Thủ tục thông báo đủ điều kiện bán: Phải gửi văn bản kèm hồ sơ đến Sở Xây dựng (SXD) và nhận văn bản xác nhận đủ điều kiện bán từ cơ quan này.
- Bảo lãnh nghĩa vụ tài chính: Phải được ngân hàng thương mại đủ năng lực (thuộc danh sách 42 ngân hàng theo Thông tư 13/2017/TT-NHNN) thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ hoàn tiền ứng trước cho khách hàng khi CĐT vi phạm nghĩa vụ bàn giao nhà.
- Bên mua NƠTM HTTTL: Khóa luận đối chiếu điều kiện giữa các nhóm chủ thể: tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài. Việc Luật Nhà ở 2014 nới lỏng điều kiện cho người nước ngoài mua nhà đã thúc đẩy thị trường (trong 2 năm đầu thực thi đã có trên 750 người nước ngoài được cấp GCN, gấp gần 6 lần giai đoạn thực hiện Nghị quyết 19/2008/QH12; riêng 6 tháng cuối năm 2015 tại TP.HCM bán hơn 1.000 căn cho khối ngoại). Tuy nhiên, chủ thể nước ngoài chịu các giới hạn nghiêm ngặt: sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư/đơn vị cấp phường; dự án không thuộc khu vực quốc phòng - an ninh; thời hạn sở hữu tối đa 50 năm (trừ trường hợp kết hôn với công dân Việt Nam).
- Quyền và nghĩa vụ của các bên: Tập trung vào 4 nghĩa vụ trọng tâm của bên bán (cung cấp thông tin trung thực trước và trong quá trình thực hiện hợp đồng; đảm bảo tiến độ và chất lượng; bàn giao nhà; làm thủ tục cấp GCN cho bên mua) và quyền chuyển nhượng hợp đồng mua bán của bên mua.
- Hợp đồng mẫu: Việc kiểm soát hợp đồng mẫu tại Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cùng Sở Công thương nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng trước các điều khoản bất bình đẳng do CĐT đơn phương soạn thảo.
Chương 2: Thực trạng mua bán nhà ở thương mại hình thành trong tương lai và một số kiến nghị
Chương 2 phân tích chuyên sâu 5 nhóm vấn đề vi phạm, bất cập trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp lập pháp, hành chính tương ứng:
| Nhóm vấn đề thực trạng |
Biểu hiện vi phạm và Dự án điển hình được trích xuất |
Nguyên nhân chính |
Đề xuất / Kiến nghị hoàn thiện |
| 1. Vi phạm điều kiện đưa vào kinh doanh |
Mở bán khi chưa có giấy phép, chưa xong móng, chưa có văn bản xác nhận của SXD, dự án đang thế chấp nhưng không giải chấp (như vụ việc tại Saigonhomes - BIDV Nam Sài Gòn). |
Quy định cho phép CĐT tự bán sau 15 ngày nộp hồ sơ nếu SXD không trả lời; chế tài xử phạt hành chính chưa đủ răn đe. |
Sửa điểm b khoản 2 Điều 19 Nghị định 99/2015/NĐ-CP: chỉ được bán khi có văn bản chấp thuận của SXD; buộc SXD công khai danh sách dự án đủ điều kiện; nâng mức phạt lên tối thiểu 1 tỷ đồng. |
| 2. Thu tiền ứng trước vượt trần & sai tiến độ |
Thu 70% – 90% khi chưa bàn giao (Đại Thành); thu gần 100% không bàn giao (PetroVietnam Landmark); thu 70% – 95% nhưng công trình dở dang (Cao Ốc Xanh); hợp đồng ép thanh toán 47% đợt đầu, 95% khi gửi thông báo bàn giao (Moonlight Residence); chặn quyền giám sát của dân (Eco Lake View). |
CĐT lợi dụng vị thế soạn thảo hợp đồng mẫu; luật thiếu cơ chế bắt buộc CĐT chứng minh tiến độ trước mỗi đợt thu tiền; người mua thiếu hiểu biết pháp lý. |
Buộc CĐT định kỳ tổ chức kiểm tra thực tế để chứng minh tiến độ; trao quyền cho bên mua từ chối thanh toán nếu CĐT chậm tiến độ; siết chặt khâu hậu kiểm hợp đồng mẫu. |
| 3. Huy động vốn bằng hợp đồng đặt cọc / giữ chỗ |
Ký hợp đồng giữ chỗ/đặt cọc thu 20% – 50% khi chưa có giấy phép xây dựng, chưa xong móng (Green Star thu 25%, Diamond Riverside thu 20%, Botanica Premier thu 50%). |
CĐT "lách luật" dựa vào quy định đặt cọc của BLDS 2015; Luật Nhà ở 2014 (Điều 69) không công nhận đặt cọc là hình thức huy động vốn nên thiếu cơ chế quản lý chuyên ngành. |
Sửa đổi Luật Nhà ở 2014 và Luật KDBĐS 2014 theo hướng: công nhận hợp đồng đặt cọc là hình thức huy động vốn ứng trước, buộc phải đáp ứng đầy đủ điều kiện mở bán và giới hạn tỷ lệ thu tiền. |
| 4. Sử dụng tiền ứng trước sai mục đích |
Chuyển tiền ứng trước mua cổ phiếu chưa niêm yết (264 tỷ), chi cá nhân (43 tỷ), trả nợ vay (26 tỷ), làm đường ngoài dự án (15 tỷ) (Thanh Hà A); chi khống hơn 160 tỷ (Dự án giãn dân phố cổ). |
Thiếu quy định buộc CĐT tách bạch tài khoản dự án; mức phạt hành chính theo Nghị định 139/2017/NĐ-CP (chỉ từ 250 - 300 triệu đồng) quá thấp so với lợi ích thu được. |
Buộc CĐT chỉ nhận tiền qua tài khoản chuyên dùng tại ngân hàng bảo lãnh; ngân hàng kiểm soát giải ngân và thông báo cho khách hàng; nâng mức xử phạt lên 1 tỷ đồng. |
| 5. Chậm tiến độ & Bàn giao nhà chưa hoàn thiện / Sai thiết kế |
Bỏ hoang công trình (PetroVietnam Landmark, 584 Lilama SHB, 584 Tân Kiên); giao nhà khi hạ tầng dang dở (Cao Ốc Xanh, Golden Silk - Kim Văn Kim Lũ, Tràng An Complex, Thăng Long Victory); xây thêm căn hộ, bớt thang máy (Hồ Gươm Plaza, Golden Land); chia nhỏ phòng hồ bơi thành 71 căn (Khang Gia Tân Hương); tiện ích chỉ có trên giấy (MB Babylon, Goldmark City). |
Quy định vốn chủ sở hữu (15-20%) chỉ tính riêng lẻ từng dự án (Nghị định 43/2014/NĐ-CP) khiến CĐT dàn trải vốn; luật thiếu quy định về điều kiện CĐT được thay đổi thiết kế hợp lý; thiếu cơ chế hậu kiểm trước bàn giao. |
Quy định vốn đầu tư (vốn chủ sở hữu + nợ) không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư của tất cả các dự án đang triển khai; bổ sung thủ tục hậu kiểm: chỉ bàn giao khi có văn bản nghiệm thu công trình của SXD. |
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc tổng hợp dữ liệu pháp lý và thực tiễn:
- Kết quả gắn với dữ liệu thực tiễn: Khóa luận chỉ ra thực trạng vi phạm có hệ thống trong huy động vốn và xây dựng qua các vụ việc cụ thể tại Hà Nội và TP.HCM: mức độ huy động vượt trần trái pháp luật (thu từ 70% đến 95% giá trị hợp đồng khi chưa đủ điều kiện tại các dự án Đại Thành, Cao Ốc Xanh); mức độ sử dụng sai mục đích nguồn vốn (264 tỷ đồng mua cổ phiếu và hàng chục tỷ chi tiêu sai tại Thanh Hà A; hơn 160 tỷ đồng không giải trình được tại dự án Giãn dân phố cổ); và việc lách luật thu 20% - 50% tiền cọc khi chưa có giấy phép xây dựng (Green Star, Diamond Riverside, Botanica Premier).
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Về mặt lập pháp: Bổ sung hợp đồng đặt cọc/giữ chỗ vào nhóm các hình thức huy động vốn phát triển nhà ở chịu sự điều chỉnh của Luật Nhà ở và Luật KDBĐS; sửa đổi Nghị định 43/2014/NĐ-CP để quản lý năng lực vốn đầu tư tổng thể (tối thiểu 20% tổng quy mô toàn bộ các dự án CĐT thực hiện); hoàn thiện khung pháp lý về các trường hợp được phép điều chỉnh thiết kế thi công do yếu tố bất khả kháng hoặc bất hợp lý kỹ thuật.
- Về cơ chế kiểm soát dòng tiền: Thiết lập cơ chế thanh toán qua tài khoản phong tỏa tại ngân hàng bảo lãnh; minh bạch hóa dòng tiền ứng trước dưới sự giám sát ba bên (CĐT - Ngân hàng - Người mua).
- Về quản lý hành chính và chế tài: Xóa bỏ kẽ hở "tự động được bán sau 15 ngày im lặng của SXD"; bổ sung cơ chế hậu kiểm bắt buộc có văn bản nghiệm thu của SXD trước khi bàn giao nhà; nâng mức xử phạt hành chính tại Nghị định 139/2017/NĐ-CP lên mức tối đa 1 tỷ đồng đối với các hành vi huy động vốn trái phép, chậm tiến độ, sử dụng sai mục đích tiền ứng trước.
- Đóng góp khoa học: So với các công trình trước đây chủ yếu dựa trên nền tảng Luật Nhà ở 2005 và Luật KDBĐS 2006 (như luận văn của Lê Chí Cường 2011, Nguyễn Thị Kim Liên 2014) hoặc chỉ tiếp cận dưới góc độ hợp đồng dân sự thuần túy (Nguyễn Thị Khánh Ngân 2018), khóa luận này nghiên cứu toàn diện dưới góc độ Luật Thương mại trên nền tảng các văn bản luật hiện hành (Luật Nhà ở 2014, Luật KDBĐS 2014, BLDS 2015, Thông tư 13/2017/TT-NHNN), tập trung phân tích sâu cơ chế huy động vốn, hợp đồng mẫu và nguyên nhân thực tiễn của các sai phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định trong phần mở đầu:
- Hạn chế của đề tài: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng nhà ở thương mại hình thành trong tương lai dưới loại hình nhà chung cư. Đề tài không mở rộng nghiên cứu đối với phân khúc nhà ở xã hội hình thành trong tương lai và phân khúc nhà ở riêng lẻ (nhà phố, biệt thự liền kề), vốn cũng tồn tại nhiều đặc thù pháp lý và rủi ro tranh chấp riêng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền lợi của người mua trong phân khúc nhà ở xã hội HTTTL; nghiên cứu chế định xử lý tài sản bảo đảm là dự án nhà ở HTTTL trong trường hợp ngân hàng thương mại tiến hành thu hồi nợ; hoàn thiện khung pháp lý về quy chuẩn nghiệm thu tiện ích cảnh quan và hạ tầng dịch vụ đi kèm trong các khu đô thị phức hợp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại, Luật Dân sự: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu kết hợp giữa lý luận phân loại tài sản theo BLDS và các quy định pháp luật kinh doanh bất động sản chuyên ngành.
- Người nghiên cứu các đề tài về thị trường bất động sản và bảo vệ người tiêu dùng: Sử dụng hệ thống luận cứ, bảng so sánh điều kiện mở bán, phân tích cơ chế bảo lãnh ngân hàng (Thông tư 13/2017/TT-NHNN) và các dẫn chứng thực tế về sai phạm của chủ đầu tư trong quản lý dòng vốn ứng trước.
- Khách hàng và các đơn vị tư vấn pháp lý: Tham khảo danh mục các rủi ro pháp lý cần kiểm tra trước khi ký kết hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng đặt cọc/giữ chỗ, nắm bắt các quyền yêu cầu giám sát thi công, điều kiện giải chấp dự án và quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thư bảo lãnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Hợp đồng đặt cọc, hợp đồng giữ chỗ mua căn hộ hình thành trong tương lai có được Luật Nhà ở 2014 công nhận là hình thức huy động vốn hợp pháp không?
Không. Điều 69 Luật Nhà ở 2014 không quy định hợp đồng đặt cọc hay giữ chỗ là hình thức huy động vốn cho phát triển nhà ở thương mại. Tuy nhiên, các CĐT đã lợi dụng nguyên tắc tự do thỏa thuận của BLDS 2015 để ký các dạng hợp đồng này nhằm thu từ 20% đến 50% giá trị căn hộ khi dự án chưa có Giấy phép xây dựng, chưa thi công xong móng và chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo quy định của Luật KDBĐS 2014.
2. Điều kiện về bảo lãnh ngân hàng trong bán NƠTM HTTTL theo Thông tư 13/2017/TT-NHNN có điểm gì mới so với quy định trước đây?
Theo Thông tư 13/2017/TT-NHNN, chỉ có 42 ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước công bố đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nhà ở HTTTL. Đồng thời, ngân hàng phải phát hành cam kết bảo lãnh dưới hình thức thư bảo lãnh gửi cho từng bên mua trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được hợp đồng mua bán do CĐT gửi đến, thay vì chỉ phát hành thỏa thuận cấp bảo lãnh chung cho CĐT như quy định tại Thông tư 07/2015/TT-NHNN.
3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài khi mua căn hộ chung cư thương mại hình thành trong tương lai tại Việt Nam bị ràng buộc bởi những giới hạn nào?
Người nước ngoài chỉ được mua tại các dự án NƠTM không thuộc khu vực bảo đảm an ninh, quốc phòng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an xác định; tổng số lượng sở hữu không vượt quá 30% số căn hộ trong một tòa nhà chung cư (hoặc không quá 30% tổng số căn hộ trên địa bàn một phường); thời hạn sở hữu tối đa là 50 năm kể từ ngày cấp GCN (có thể gia hạn), trừ trường hợp kết hôn với công dân Việt Nam hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu ổn định, lâu dài.
4. Khóa luận đã chỉ ra những sai phạm cụ thể nào về việc CĐT sử dụng sai mục đích tiền ứng trước của khách hàng?
Khóa luận viện dẫn các vụ việc thực tế: tại dự án Thanh Hà A, CĐT đã dùng 264 tỷ đồng tiền ứng trước mua 24 triệu cổ phiếu của công ty chưa niêm yết, chi 43 tỷ cho cá nhân, dùng hơn 26 tỷ trả nợ ngân hàng và vay cá nhân, chi 15 tỷ làm đường tại Nghệ An; tại dự án Giãn dân phố cổ, CĐT đã chi hơn 160 tỷ đồng không giải trình được chi tiết, chuyển hơn 80 tỷ sang các dự án khác và lập chứng từ khống gần 24 tỷ đồng.
5. Tác giả đề xuất giải pháp gì để kiểm soát dòng tiền ứng trước và ngăn ngừa việc bàn giao nhà chưa hoàn thiện?
Tác giả đề xuất: buộc CĐT phải mở tài khoản chuyên dùng tại ngân hàng bảo lãnh để tiếp nhận tiền ứng trước, mọi lệnh rút tiền phải có thông báo cho khách hàng; nâng mức xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng vốn sai mục đích lên tối đa 1 tỷ đồng; và thiết lập cơ chế hậu kiểm bắt buộc: CĐT chỉ được bàn giao căn hộ cho bên mua khi đã có văn bản nghiệm thu hoàn thành xây dựng theo đúng thiết kế được phê duyệt của Sở Xây dựng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thành Lân đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán nhà ở thương mại hình thành trong tương lai là nhà chung cư. Thông qua việc phân tích hàng loạt sai phạm thực tế tại các dự án bất động sản, công trình đã làm rõ những kẽ hở pháp lý liên quan đến điều kiện mở bán, hợp đồng đặt cọc, nghĩa vụ bảo lãnh và cơ chế giám sát sử dụng tiền ứng trước. Các kiến nghị sửa đổi Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các nghị định liên quan được đề xuất có tính thực tiễn cao, hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên mua và xây dựng thị trường bất động sản minh bạch, an toàn.