Chương 1 và Mục 2.3 của Chương 2. - Sử dụng phương pháp chứng minh để làm rõ thêm cho nhận định của tác giả đối với vấn đề tác giả đưa ra quan điểm. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Mục 1. - Sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng hợp các tài liệu, số liệu, bản án thu thập được để hoàn thiện từng chương và cho cả luận văn về kê biên, xử lý quyền sử dụng đất trong trường hợp trên đất có tài sản của người khác trong thi hành án dân sự.
Phương pháp này được thể hiện rõ nhất trong kết luận của các chương và kết luận chung của luận văn. Bố cục luận văn Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu theo 02 chương: Chƣơng 1: Kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong trường hợp trên đất có tài sản của người khác. Chƣơng 2: Xử lý quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong trường hợp trên đất có tài sản của người khác. 7 CHƢƠNG 1 KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƢỜI PHẢI THI HÀNH ÁN TRONG TRƢỜNG HỢP TRÊN ĐẤT CÓ TÀI SẢN CỦA NGƢỜI KHÁC 1.
Thủ tục kê biên quyền sử dụng đất của ngƣời phải thi hành án trong trƣờng hợp trên đất có tài sản của ngƣời khác Kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án, do vậy phải bảo đảm các nguyên tắc chung khi cưỡng chế thi hành án là: (i) Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào nội dung bản án quyết định; tính chất mức độ, nghĩa vụ thi hành án, điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế ở địa phương; (ii) Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án. Trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án; (iii) Chỉ kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án khi có căn cứ khẳng định tài sản đó thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án và do họ đang quản lý sử dụng hoặc do người thứ ba giữ; (iv) Chỉ kê biên tài sản tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết khác; (v) Không tổ chức cưỡng chế trong các thời điểm: Từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau; trong thời gian 15 ngày trước và sau Tết Nguyên đán; các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách – khi họ là người phải thi hành án. Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù của loại tài sản kê biên này, nên khi kê biên quyền sử dụng đất, phải đảm bảo: (i) Quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà CHV dự định kê biên phải thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; (ii) Thửa đất kê biên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó. Trước khi kê biên quyền sử dụng đất, CHV phải thực hiện việc lập hồ sơ thi hành án, tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, gửi thông báo về thi hành án, tại các điều từ Điều 39 đến Điều 43 Luật THADS năm 2014 đã quy định cụ thể về các hình thức thông báo về thi hành án, đó là 8 thông báo trực tiếp, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai.
Tại Điều 89, Điều 111, Luật THADS năm 2014 quy định về kê biên Quyền sử dụng đất như sau: Trước khi kê biên quyền sử dụng đất, CHV yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký. Sau khi kê biên, CHV phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký biết việc kê biên tài sản đó để có sự phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật. Việc kê biên quyền sử dụng đất, CHV phải thu giữ các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất này, để thuận lợi trong việc xử lý tiếp theo. Theo quy định tại Điều 113 Luật THADS năm 2014, trường hợp tài sản trên đất thuộc sở hữu của người khác, hướng xử lý tuỳ thuộc vào thời điểm có tài sản đó.
Cụ thể: - Nếu các tài sản này có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án, CHV sẽ yêu cầu chủ tài sản tự nguyện di dời, trường hợp họ không thực hiện theo yêu cầu của CHV hoặc tài sản này không thể di dời được, thì hướng dẫn cho chủ tài sản và người có quyền sử dụng đất thoả thuận với nhau cách giải quyết, trường hợp các bên này không thoả thuận được trong thời hạn quy định (15 ngày), CHV sẽ kê biên quyền sử dụng đất và cả tài sản trên đất để xử lý. - Nếu tài sản này có sau khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án, CHV sẽ yêu cầu chủ tài sản tự nguyện di dời, trường hợp họ không thực hiện theo yêu cầu của CHV hoặc tài sản này không thể di dời được trong thời hạn quy định (15 ngày), CHV sẽ kê biên quyền sử dụng đất và cả tài sản trên đất để xử lý. - Nếu tài sản này có sau khi CHV đã ra quyết định kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, mà chủ tài sản không di chuyển ra khỏi quyền sử dụng đất bị kê biên hoặc tài sản này không thể di chuyển được, về nguyên tắc sẽ bị tháo dỡ. - Trường hợp tài sản trên đất của chủ sở hữu khác và đã bị kê biên cùng với quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, sau khi xử lý, CHV sẽ hoàn 9 lại tiền bán tài sản cho họ hoặc yêu cầu họ nhận lại tài sản, đồng thời yêu cầu chủ tài sản này phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu giá hoặc chi phí tháo dỡ nếu có.
Mặc dù đã có nhiều quy định liên quan đến thủ tục thi hành án dân sự, tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng, vẫn còn tồn tại một số bất cập sau, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động THADS: Thứ nhất, về quy định thông báo thi hành án Một, khoản 1 Điều 39 Luật THADS năm 2014 quy định: “Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó”. Ở đây Luật đề cập đến khái niệm “Văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án”, tuy nhiên không có hướng dẫn nào giải thích cụ thể đó là những loại văn bản nào, vì vậy, việc hiểu và áp dụng quy phạm thông báo này còn nhiều tranh luận, quan điểm khác nhau, và thực hiện một cách khác nhau1. Chẳng hạn thông báo việc bán đấu giá tài sản kê biên, hiện có nhiều cách hiểu khác nhau: - Có quan điểm cho rằng: Cơ quan THADS, CHV không có trách nhiệm thông báo cho các đương sự về bán đấu giá tài sản kê biên, vì khi cơ quan THADS đã ký kết hợp đồng ủy quyền việc bán đấu giá tài sản cho tổ chức bán đấu giá thì các đương sự và người liên quan đã biết và buộc phải biết về việc tổ chức bán đấu giá. Trong suốt quá trình THA, các đương sự và người liên quan đã được thông báo nhiều trình tự liên quan đến việc kê biên, thỏa thuận về giá, thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá, lựa chọn tổ chức bán đấu giá,….
Vì vậy, họ phải có trách nhiệm liên hệ với tổ chức bán đấu giá để được biết về việc tổ chức bán đấu giá tài sản đối với tài sản có liên quan đến mình, trừ trường hợp tài sản đã ký hết hợp đồng và đã hết thời hạn mà không bán được theo quy định tại Điều 104 Luật THADS năm 2014. 1 Đinh Duy Bằng, Hoàng Thị Thanh Hoa, “Về thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông báo các văn bản khác trong thi hành án dân sự”, https://thongtinphapluatdansu.vn/2018/04/05/ve-thng-bo- trn- phuong-tien-thng-tin-dai-chng-v-thng-bo-cc-van-ban-khc-trong-thi-hnh-n-dn-su/, 19-6-2019. 10 - Quan điểm khác lại cho rằng: CHV, cơ quan THADS phải thông báo cho các chủ thể có liên quan đến việc bán tài sản kê biên, bởi thông báo này được hiểu là “văn bản khác” theo quy định ở Điều 39 Luật THADS năm 2014. Tác giả cho rằng, khó có thể xác định quan điểm nào phù hợp do sự chưa rõ ràng từ quy định của pháp luật nêu trên.
Bởi nếu xem các thông báo liên quan đến đấu giá tài sản là “văn bản khác” theo quy định ở Điều 39 Luật THADS năm 2014, vô hình dung tạo áp lực rất lớn cho CHV khi tổ chức việc thi hành án, bởi như vậy số lượng công việc họ phải thực hiện rất lớn. Trường hợp không xem đây là “văn bản khác” theo quy định ở Điều 39 Luật THADS năm 2014, dễ dẫn đến khiếu nại, tố cáo từ các chủ thể có liên quan việc bán tài sản kê biên này. Hai, thời hạn để CHV gửi thông báo về thi hành án, thông báo việc kê biên quyền sử dụng đất…là 03 ngày làm việc, theo tác giả là quá ngắn, trong rất nhiều trường hợp, CHV không đảm bảo thực hiện đúng quy định này. Thực tế hàng năm, mỗi CHV phải tổ chức thi hành hơn 200 việc thi hành án và mỗi việc thi hành án, có rất nhiều loại thông báo thi hành án CHV phải gửi cho đương sự, cho Viện kiểm sát, cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan…như vậy nếu chỉ tính bình quân mỗi việc thông báo về kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, tối thiểu CHV phải gửi thông báo cho 05 nơi, đó là người được thi hành án, người phải thi hành án, Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân nơi có quyền sử dụng đất kê biên, cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất và nếu tính trung bình một việc thi hành án nói chung, có 04 nơi cơ bản cần gửi thông báo về quyết định thi hành án, thì mỗi năm CHV phải gửi khoảng 800 lượt thông báo.